K6 - Một thời Tranh - Nứa Một thời để nhớ

Xin chào và chúc sức khỏe toàn bộ các anh chị, các bạn sinh viên khóa 6 trường Đại học Cơ Điện và mọi người từng trải qua mái trường thân yêu ấy!
Xin cảm ơn mọi đóng góp ý kiến, bài vở, hình ảnh để "Hội K6 Cơ Điện" là nơi thân thiết của mỗi cựu SV K6I - K6MA - K6MB - ... thuở ban đầu 1970!
Blog chào mừng cựu sinh viên các khóa khác nhau của ĐH Cơ Điện vào thăm và cùng xây dựng Hội K6 Cơ Điện thành "sân chơi" chung của chúng ta!
Mời các anh chị và các bạn chưa quen blog nhấn vào đây . Các bạn cũng nên ghi nhớ địa chỉ blog dự phòng: http://k6bc11r.wordpress.comBan biên tập - K6BC11R Ban biên tập - K6BC11R Ban biên tập - K6BC11RBan biên tập - K6BC11RBan biên tập - K6BC11R -------- Email: k6bc11r@gmail.com

22 tháng 2, 2017

VÀI NÉT VỀ LÀNG GIÀN TRUNG KÍNH HẠ-TRẦN MINH HẢI

TRẦN MINH HẢI
P9
Năm 2008>Tháng mười: có trận lụt khủng khiếp tại Hà nội ta, đường Trần Duy Hưng nước ngập gần hết bánh xe ô tô, để lại núi dày dép khổng lồ của mọi người chạy mất dép bỏ lại. Nhà tôi tọa lạc ngõ 148, nước ập vào nhà ngập hủm tận gương xe Dram100 hơn tuần lễ. Giờ mùa mưa, Hà nội ta ơi-đâu cũng úng ngập-sảy ra như cơm bữa.
Trạnh nhớ làng Giàn xưa kia, dù mưa bão bít bùng>đường gạch giữa làng nước chỉ ngập 20 cm (nước mưa trong văn vắt đồng đong cân cấn bơi tung tăng gạch đường làng đỏ au, xen lá cây xanh ngắt bị gió mưa làm rụng> tạnh mưa là hết ngập). Chợt nhớ hệ thống ao hồ-ngòi-mương của các cụ thật tài tình. Giờ cái hệ thống thủy lợi tự nhiên ấy còn là trong dĩ vãng của lớp người xưa. Nay kể lại đôi chút “Nhất Thủy nhì Hỏa“. Chợt nghĩ phong tục xưa không phải ai cũng biết. Đó là gạch lát đường cái chính và các xóm ngõ-tiền của dân làng đóng góp+trong đó có tiền nộp cheo của trai thiên hạ>về làm rể làng Giàn. Gạch chọn lựa kỹ càng, bao năm không nứt vỡ. Rơm rạ phơi, xe bò kéo hàng, trâu bò qua, ô tô vào làng chở tăm xuất khẩu chạy phe phé...Nay đã trải nhựa đường chính, đổ bê tông các ngõ-không còn dấu tích xưa.
Trước hết là các ao trong làng, được hình thành do đào đất đắp nền nhà.Ao to  thả cá (lễ tết thì đánh bắt), các ao nhỏ phục vụ cho tắm, giặt giũ quần áo, rửa rau vo gạo ,rửa chân tay khi làm đồng về, ao còn được thả bèo nuôi lợn, thả vạt rau muống bè, tiện nước tưới cho cây trong vườn,sẵn nước cứu hỏa (phòng cháy đống rơm+nhà bếp). Vớt bùn ao trang luống để gieo mạ trên sân. Mùa khô nạo vét lấy bùn đắp cây vun luống rau vườn thêm chất màu... Cầu ao to là trung tâm báo chí truyền mồm. Ao là trường học cho trẻ con học bơi, thực tập các bài câu cá trộm. Các mẹ xúc rổ sảo kiếm tý tôm tép cua-quấy bột trẻ con lúc nhỡ nhàng. Các ao thiết yếu cho dân quê xưa lắm nhá-thế hệ sau này không thấy ao+ít biết, đành viết ra cái thời “Ngày xưa ơi“. Viết ao kèm tên các vị đã khuất-âu cũng là cách tưởng nhớ người xưa gắn bó với làng, vất vả chịu khó „“Một nắng hai sương“ sinh con đẻ cái+xây đắp quê hương có diện mạo như ngày nay...
AO TRONG LÀNG
1/Tính từ cây đề đầu Mảng hài đầu làng, đi dọc đường chính tới cuối làng
-mé bên tay phải đi vào ao: ông Lý Ngư>ao chú ba Phẽo>ao chú phó Mức>2 ao ông Sỡi (mé trong có ao bác tư Vời) các ao nối với nhau bằng rãnh nước+chui cống sau cổng làng đổ ra ao Phe. Qua cổng xóm Chùa đến ao bác Ngác>ao đình (phía trong là ao anh hai Hồng) qua cổng xóm Chùa rẽ phải >ao chú Phảo và ao trước đền (may còn nguyên diện tích và hình dạng xưa).
-mé bên tay trái:ao anh hai Tùy (phía trong có ao ông Phần>ao bác tám Chiu>ao bác Thọ>ao chú Thịnh) kể tiếp>ao chú Sới>ao ông tư Thiệp> ao Phe>ao Trực phía trong>ao ông ba Doanh>ao bà phó Luẩn>ao chú Băm. (Sau ao Băm này có ao anh cả Vung, ao bác Đạt ở trong)>ao ông Bường>ao bác ký Chưng ở trong. Phía ngoài là ao bác ba Đương>ao các cụ (trước cửa Đình hình bán nguyệt theo phong thủy rộng-nay bị thu hẹp lại kiểu chữ nhật)>ao bác cả Trác (sát cổng chùa cả ra đồng)Phía nhà bác hai Đắc HTX còn đào một cái ao to cạnh sân kho-là chuyện của về sau
2/Ngõ vào xóm Điếm: tay bên trái ao ông Lý Cần>...ao chú Chạy, ngách về sau điếm có ao chú ba Mỹ>ao chú ba Cương>ao chú tư Khây (bên kia là nhà năm Tò)>ao chú phó Lộng. Tay bên phải ao bác cả Xanh>ao bác hai Giao (nằm giữa 2 nhà anh cả Đức và bác cả Phiếu). Cuối cùng là ao chú sáu Đồn. Quanh đó có ao bác hai Bé, bác hai Thọ
3/Ngõ vào xóm Trại : tay trái ao Câu lạc bộ>ao bác tư Tít> ngoặt vào là ao bác Thấy>ao anh hai Hoa trong cùng. Tay bên phải đi vào ao chú Phê cung văn> rẽ sang ao chú hai Thanh. Ngách vào chú hai Thuận có ao con của chú Duệ>ao bác tư Vần.
4/1/3 chiều dài ngõ 148 TDH là ao Phe>ao anh cả Vung>ao bà Quận>ao bác cả Tình, ao chú tư Thêm. Xuôi theo chiều về Hào có ao ông bá Lơn ở trong. Phía ngoài là ngòi nước dài 500m từ nhà anh cả Tộ nối tới Hào
5/Rìa làng bao quanh xóm trại: sau ao ông Lý Ngư>ao ông phó Khao>ao bác tư Òm>ao ông cả Mọc>ao chú Na>ao chú ba Mại>ao chú hai Vị>ao anh hai Hoa>ao anh cả Tuân>ao anh cả Ca>ao bác hương Vấn>ao bác hộ Tý. Xóm Chùa còn thêm 2 ao Ông phó Bình và ao chú năm Khắc. Ngòi nước bao quanh rìa làng này được nối với ao trại chăn nuôi...để ra cánh đồng hàng xã.
6/Ao quán cụ Thia xưa>vào cổng xóm Đầm :ao bác cả Chóp>ao bác cả Họa. Ngách qua nhà chú trưởng Linh có ao ông Thống. Ao chú cả Kho. Ao nhà bác Tròn, Ao bác cả Khôn. Ao bác năm Di. Ngách ra đền bình văn xưa có ao dài mà nhà bác cả Tường-chú ba Khương-chú hai Chức-cô Nguyệt ở ven bờ. Đền bình văn 3 mặt là ao to. Ao ông Thường. Ao bác ba Tụng. Ao chú Chạ.Ngách qua chú hai Phan cò có ao bác Hội>ao bác hai Ký>ao cụ Ạo gần nhà bác Duệ
ĐÊ VÀ MƯƠNG
-Năm 1965 Thành phố xây đê chống lũ vòng trong cùng, kéo dài từ sông Tô lịch bao quanh làng ta vòng qua đài phát thanh Mễ trì. Có đê sẽ xuất hiện các hố đê quanh làng.Công dụng là trữ nước mùa cạn-tiêu úng mùa mưa-có thêm kéo te+kéo vó+nuôi vịt đàn cho làng+ao bơi lội cho trẻ. Mép đê phía làng có mương nổi lấy nước từ trạm bơm đầu Q10 cấp cho đồng Ngo Cùng. Nên khi có đê bao>cấy lúa phía quán đầu eo hay bi úng ngập khi gặt mùa mưa>dân đóng bè chuối, thuyền nan gặt mò>phơi bó lúa sườn đê cho ráo>rất cực. Làng ta mua khoai sắn cứu đói  chợ Vạn+dân Mễ trì ra phố bán hàng xáo và cốm đều gánh gồng trên con đê này. Mặt đê chỉ có ô tô con là đi lại dễ dàng thôi-Giờ là đoạn đầu Trần Duy Hưng>Trung kính>Vũ phạm Hàm (qua Chùa, qua Đình)>sau Big Thăng long.xiên qua TTHN quốc gia.
-Hệ thống mương liên xã, lấy nước sông Tô lịch ở 2 đoạn bờ sông xẻ thấp: Đầu phố Trần Duy Hưng và đoạn Mông voi-đường Nguyễn Khang nay. Mương bẻ chữ U-đáy dọc sông Tô, nhánh trái qua thôn Thượng, Hòa mục rồi quặt phải qua quán Vò gạo+quán Dền cánh đồng bãi xưa-nhánh phải chảy dọc làng Cót-ngoặt trái lên mạn Dịch vọng. Học trò đi học qua toàn phải xắn quần, tháo guốc gỗ dép cao su.Thi thoảng mới có cầu bắc ngang qua bằng mấy tấm đan (phục vụ xe cải tiến ngang qua) người qua mương gánh phân-vơ cỏ-gánh lúa và rạ rơm phải đi vòng vèo. Tôm cua cá tép sinh sôi-cấp chất đạm cho người nhà quê quanh năm là ở đây chứ đâu (có khối cao thủ kéo vó, đặt đơm đó, mò cua bắt ốc, kéo te-mang sản phẩm mang ra Cầu giấy và Ngã tư sở bán).Ở cái thời khốn khó 1965-1980 chỉ giỗ tết thì mới dám thịt con gà, chung đụng thịt lợn đội.

Đầu xuân viết tý chuyên đề, trình bà con ta-rỗi thì nhòm tý 

VÀI NÉT VỀ LÀNG GIÀN TRUNG KÍNH HẠ-TRẦN MINH HẢI

TRẦN MINH HẢI

P8
  
Viết ngoài chính sử,biết đến đâu Tôi viết tới đó, có sai sót nhầm lẫn mong Bà con Làng ta nhận xét, góp ý giùm cho. Về các Sắc phong ở Đình làng ta. 
Cây đa,Giếng nước, Ao làng, Đình Chùa Miếu là biểu tượng của quê hương mà những ai xa xứ thường đau đáu nhớ về. Đình ngoài là nơi hội họp, lễ Thánh, còn lưu giữ các đạo Sắc phong của các triều đại ngày xưa (là niềm tự hào, là bảo vật quý của địa phương). Chỉ ngày lễ trọng mới được rước ra kính cẩn lễ bái và chiêm ngưỡng-dân đen mấy ai được nhìn tận mắt ?. Thế rồi VN ta chiến tranh liên miên+thiên tai+thời tiết khắc nghiệt...làm các văn bản quý báu ấy cứ rụng rơi mất dần theo thời gian. Thế rồi chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán, chữ Nôm xưa...đứt đoạn mạch truyền thống đọc+hiểu chữ nho xưa,làm cho lớp trẻ  nay dù có quan tâm cũng đành chịu-biết tìm biết hỏi ai ?. May thay còn có nhiều người tâm huyết  với Làng, có nhiều lượt đóng góp công+của để trùng tu+phục chế+cung tiến hoành phi câu đối, nghi trượng và các đồ tế khí... vào các Công trình xưa ở Làng, với tất cả tấm lòng tự nguyện thành kính. Các tư liệu báo chí, văn bản xưa đã được nhiều người có tuổi âm thầm sưu tập, viết bài cẩn trọng để chờ ngày trình Làng. Lớp trẻ hiện nay đã tận dụng ưu thế vi tính, có ý thức chụp ảnh quay phim lưu cho thế hệ sau này, đồng thời giao lưu với các trang mạng khác, cho thiên hạ một cái nhìn trân trọng về Kẻ Giàn Trung Kính hạ của đất Thăng long xưa.
Qua tìm hiểu, tôi rất cảm phục ông Nguyễn khánh Bình tự học mấy chục năm chữ Hán Nôm để rồi trở thành một Chuyên gia. Ông vào Viện Hán Nôm, Viện thông tin KHXH nhà nước, sưu tầm: Sắc phong Triều đình ban,Thần tích Thần sắc, Hương ước, Khoán ước và các Thư tịch cổ (sớ, văn khấn, văn tế...) của làng mang về dịch, Ông không giữ riêng mà phổ biến cho học trò và những người tâm huyết với quê hương. Chính Ông đã tìm ra các đạo Sắc phong Vua các đời ban cho làng, và về báo cáo các bậc Cao niên. Được sự ủng hộ của các bô lão+học trò+dân làng và một số người có nhiệt tâm...Ông là nhân vật chủ lực tiến hành các bước thực hiện Công trình. Trò của Ông toàn GS+TSKH+Nhà thư pháp nổi tiếng+Nghệ nhân+Phóng viên báo đài... đã tận tình giúp thầy mình- vượt qua nhiều khó khăn>ngược dòng thời gian>cẩn trọng mọi bước đi phục chế>sao cho đạt chính xác nhất có thể. Đặt làng Nghĩa đô truyền thống chuyên làm giấy dùng cho Vua viết SP.Nhờ nhà Thư pháp nổi tiếng Trịnh Tuấn thể hiện nét chữ văn bản đời Lê+Nguyễn, chụp triện lưu. Ông chụp lưu trữ+trưng bày ảnh ở Đình...Để cho Chúng ta tận mắt thấy các Đạo sắc phong phục chế: Lộng lẫy+rực rỡ vàng son>ngự trên ban thờ của Đình làng Trung Kính Hạ.
Các đạo Sắc phong (SP) của các triều đại xưa tuân theo quy tắc rất nghiêm ngặt, dấu triện vuông son đỏ Vua ban đều  dùng chữ “Sắc Mệnh Chi Bảo“. Chỉ có khác hình thức... mà Viện Hán Nôm đã lưu trữ được rất nhiều (Nét chữ đời Lê bay bướm, đời Nguyễn vuông khổ mực thước). Việc phục chế các SP dựa trên ảnh gốc chụp lại, rất thuận lợi...Nên nhiều năm qua+nhiều địa phương đã làm SP, nhằm cho hậu thế quê hương hiểu biết các văn bản Vua ban cho làng.
Với ông Bình, dù ông khiêm tốn không nói nhiều về mình. Nhưng tôi biết nhiều điều thú vị, xin chia sẻ với bà con :
+Tất cả các chữ Nho ở Đình, Chùa, Miếu, Hoành phi, Câu đối trong làng Giàn ta đã được Ông tập hợp chú giải trong quyển “ Một số tư liệu về Đình Chùa Miếu thôn Trung kính hạ“, giúp dân làng hiểu rõ văn thơ các bậc Túc nho đời xưa tại Làng. Bước sau Ông sẽ  bổ sung ảnh chụp đặc tả các hiện vật minh họa bài đã nêu, hoàn chỉnh cuốn sách.
+Kỷ niệm 1000 năm Thăng long-Hà nội, lòng Ông thôi thúc đóng góp cụ thể việc phục chế các SP Vua ban cho Làng. Không giữ lưu trữ làm của riêng+vượt qua các trở ngại...để bây giờ và mai sau làng ta thấy tận mắt các văn bản quý giá cách đây vài trăm năm xưa (thực chất bây giờ ối người còn chưa biết). Hy vọng Ông sẽ chụp rõ nét 14 đạo SP này để “bắn“ lên Facebook cho nhiều người xa quê được chiêm ngưỡng. Mấy năm trở lại đây Ông đã cùng bà con thực hiện một số câu đối bổ sung vào các công trình trùng tu (tuân theo phong cách và hình thức xưa).
+“Hữu xạ tự nhiên hương“ các địa phương lân cận và một số nơi đã nhờ ông biên dịch văn bản cổ của làng họ. Ông đã nhiệt tâm chú giải. Từ các văn bản xưa Ông đã biên soạn thành Giáo trình dạy biết bao thế hệ trò lớp Hán Nôm. Việc tổ chức các lớp học từ bàn ghế, đèn quạt, bảng đen, giáo trình đều được học viên tự nguyện đóng góp tùy theo khả năng của mình. Dù tuổi cao Ông vẫn đi giảng dạy đều đặn, kết hợp với thực tế nơi mở lớp...cho trò nhớ lâu chữ Thánh hiền, hiểu biết thêm các phong tục đẹp của cha ông xưa.Bằng lời nói rủ rỉ chân tình
+Thực tế học chữ Thánh hiền để tu dưỡng tâm hồn, lòng kính trọng tiền nhân, thêm hiểu+thêm yêu quê hương đất nước, thấy cái hay cái đẹp của chữ tượng hình gắn với phương ngôn+hành động...cô đặc chỉ bằng vài nét bút lông “Nét chữ nét người“. Chỉ những ai đã trải qua vọc vạch chữ xưa mới cảm nhận thấu đáo Đồng âm Dị nghĩa, cái hay của Chữ tượng hình, đã viết thì phải hiểu thấu đáo từng con chữ...(mà 5 năm học Trung văn phổ thông xưa đã cho tôi biết)
Ông tranh thủ phổ biến cái hay, cái đẹp của Tiền nhân để lại, ở mọi nơi mọi lúc. Sách ông tập hợp tư liệu làng ta sẽ là vô giá.Tin là trong số các trò hiện ở làng>sẽ có người nối tiếp sự nghiệp+tâm huyết của Ông hôm nay. Người làng ta ra Văn Miếu “cho chữ“ đầu xuân đều là trò cũ của ông Bình.Lớp Hán Nôm Ông dạy đã có tiếng vang đất Hà thành gần 2 chục năm qua. Vững tin những gì Ông sưu tầm được và viết ra : sẽ có ích cho Làng ta về sau này.
+Thiển nghĩ : Rất cần có kế hoạch giữ gìn và bảo quản lâu dài các văn bản Sắc phong thực hiện công phu này (kín và chống ẩm mốc). Sớm tu chỉnh các sai sót khi phục chế các hạng mục kiến trúc (cho đời sau hiểu chính xác văn tự Tiền nhân xưa để lại). Tạo điều kiện cho các Phóng viên báo viết và báo hình về làng tác nghiệp, tạo thiện cảm tốt đẹp nhất với khách thập phương đến dự hội Đình. Lớp trẻ sau này sẽ viết tiếp các Câu đối hay>nối mạch các Tiền nhân>để treo tiếp vào các Danh thắng của làng Giàn ta. Sẽ duy trì và phát huy tốt hơn các lễ hội. Sẽ mở rộng giao lưu liên kết...Tôi biết rất nhiều bạn trẻ tâm huyết với Làng, có nhiều suy nghĩ và hành động mới mẻ. Đừng nên coi thường mà nên lắng nghe rồi ủng hộ các kiến nghị hợp lý hợp tình của họ. Chân thành nêu ra, mong mọi người chỉ giáo đúng sai.
DANH MỤC CÁC ĐẠO SẮC PHONG (Đã có bản dịch trong Đình, nên không đăng nội dung văn bản-ngày tháng tính theo âm lịch-ghi tước hiệu Vua ban)
1-SP ngày 24/7 năm Cảnh Hưng 1 (1740) Đương cảnh Quốc vương Đại thần
2-SP ngày 8/8 năm Cảnh Hưng 28 (1767) Đương cảnh Quốc vương đại thần.
3-SP ngày 16/5 năm Cảnh Hưng 44 (1783) Quốc vương Đại thần
4- SP ngày 26/7 năm Cảnh Hưng 44 (1783) Quốc vương đại thần.
5- SP ngày 22/3 năm Chiêu Thống 1 (1787) Quốc vương đại thần.
6-SP ngày 2/9 năm Quang Trung 4 (1791) Quốc vương đại thần.
7-SP ngày 12/12 năm Cảnh Thịnh 1 (1793) cho 2 vị Quốc vương đại thần và Thiện nghĩa-Hoằng ân phương dung.
8-SP ngày 3/10 năm Tự Đức 10 (1857) Quảng hậu Chính trực, Hựu thiện chi thần>Quảng hậu, Chính trực, Hựu thiện, Đôn ngưng chi thần.
9-SP ngày 24/11 năm Tự Đức 33 (1880) Quảng hậu,Chính trực,Hựu thiện. Đôn ngưng, Bản cảnh Thành hoàng chi thần.
10-SP ngày 1/7 năm Đồng Khánh 2 (1887) Quảng hậu, Chính trực,hựu thiện, Đôn ngưng, Bản cảnh Thành hoàng chi thần>Dực bảo ,Trung hưng chi thần.
11-SP ngày 18/11 Thành Thái nguyên niên (1889) thờ Thiệu nghĩa Công chúa, Hoằng ân, Dực thánh phu nhân chi thần>Dực bảo trung hưng, Linh phù chi thần.
12-SP ngày 11/8 năm Duy Tân 3 (1909) Dực bảo Trung hưng, Linh phù, Thiệu nghĩa công chúa, Hoăng ân>Dực thánh phu nhân chi thần
13-SP ngày 25/7 năm Khải Định 9 (1924) Bản cảnh Thành hoàng tôn thần>Tĩnh hậu Trung đẳng thần.
14-SP ngày 25/7 năm Khải Định 9 (1924) Thiên nghĩa công chúa Hoằng ân Dực thánh phu nhân tôn thần>Trinh uyển tôn thần..

Đầu xuân Đinh Dậu, mạo muội đôi lời trình bà con làng ta.

QUÀ TẶNG CUỘC SỐNG 22-2


21 tháng 2, 2017

VÀI NÉT LÀNG GIÀN TA P-11

TRẦN MINH HẢI - k6i


Sau khi Tôi đã đăng phần 9, bà con ta ngỏ ý muốn biết vị trí các cánh đồng xưa kia của làng-mà nay đường phố+nhà cưả+phố xá mọc lên chen chúc-lớp con cháu không thể hình dung diện mạo của đất Kẻ Giàn ven bờ sông Tô lịch đất Thăng long xưa.

Thế nên Tôi viết tiếp phần này, ngõ hầu nhắc lại cách đây 17 năm-dân làng Giàn ta vẫn lấy nông nghiệp là căn bản để sống và tồn tại-kế tiếp hàng trăm năm đã trôi qua, cùng với biết bao nhiêu thế hệ đổ mồ hôi, thậm chí cả máu xương dựng xây cơ nghiệp cho chúng ta thừa hưởng hiện nay.

" THẾ MỚI ĐÁNG MẶT ĐÀN ÔNG "

TRẦN MINH HẢI sưu tầm

Bình sinh, cho đến bây giờ đã sang bên kia dốc cuộc đời, tôi vẫn thường tự cho mình là kẻ không đến nỗi phải xấu hổ với danh phận của một thằng đàn ông , một thương gia .
Ấy vậy mà cuộc đời phiêu bạt để bỗng có một ngày đẹp trời, trên một phiên chợ vùng cao, tôi bị choáng váng vì tự thấy xấu hổ với mình khi ngồi nghe trộm câu chuyện của hai người đàn ông xa lạ.

QUÀ TẶNG CUỘC SỐNG 21-2


20 tháng 2, 2017

VÀI NÉT LÀNG GIÀN TA-P10

 TRẦN MINH HẢI -K6I

       Ra giêng hai, 45% của 24 dòng họ trong làng Giàn đã lần lượt tổ chức giỗ Tổ, Họ nhiều Đinh thì trên dưới 60 mâm, Họ ít thì dăm mâm (lệ làng là gióng cỗ sáu khẩu). Có họ >40 cái giỗ hậu>cắt cử các gia đình luân phiên làm cỗ này suốt cả năm+đúng 11h gióng chuông nhà thờ họ>thành viên tới dự và mang lộc về...

ÔNG BIẾT TÔI LÀ AI KHÔNG?

Cho mãi đến mấy hôm trước, tôi mới tìm ra được câu trả lời cho một câu hỏi tôi bị hỏi từ hơn ba mươi lăm năm trước.
Một bữa đang ngồi trong quán cà phê ở Sài Gòn, thì tôi bị một người đàn ông gây sự và cuối cùng ông ta quăng ra cho tôi câu hỏi : “Ông biết tôi là ai không ?”
Quả thật lúc ấy, tôi không biết ông ta là ai thật. Ông không phải là một tài tử, một nhà văn, hay một chính trị gia nổi tiếng để tôi phải biết. Tôi đành ngồi đó, chịu thua ông, không có câu trả lời.
Ít lâu sau, tôi được cho biết ông là đàn em của một quan chức lớn, và nhờ đó, ông thỉnh thoảng đem chút “hào quang” vay mượn được để hù dọa những người yếu bóng vía như tôi.

QUÀ TẶNG CUỘC SỐNG 20-2


16 tháng 2, 2017

Viết nhân ngày 17/2.

Ngô Vi TK to LÍNH XE TĂNG
12 mins ·

Lại hỏi như từ khi Fb sinh ra !?
Nghĩ đến ngày hôm nay chứ còn gì nặng nề hơn thế nữa !
17 tháng Hai năm 1979 - Vết đau lịch sử trên thân thể Việt cứ đến ngày này lại nhức nhối, ngứa ran vì không thể liền da.
Những " thầy lang băm chính trị" vơ váo đủ thứ tả pí lù để che kín vết thương, bó chặt vết đau vì mục đích gì ?

QUÀ TẶNG CUỘC SỐNG 16-2


12 tháng 2, 2017

Thăm đất nước UAE (phần 3)

Tham quan  đất nước UAE 
Công viên hoa lớn nhất thế giới ở tiểu vương quốc Du Bai
Tạm biệt thủ đô Abu DhaBi  chúng tôi tiếp tục di chuyển tới thành phố Dubai để tiếp tục chiêm ngưỡng những cái nhất thế giới của vương quốc này khiến  c thế gii phi ng mũ kinh ngc:

Vườn hoa  Dubai Miracle là vườn hoa rộng nht thế gii ta lc ti khu liên hp vui chơi gii trí Dubailand vi 45 triu bông hoa được kết nối trên din tích 72.000 m2.xếp trên các hình khối tạo nên 
̣t công viên hoa đặc sắc”

QUÀ TẶNG CUỘC SỐNG 12-2