K6 - Một thời Tranh - Nứa Một thời để nhớ

Xin chào và chúc sức khỏe toàn bộ các anh chị, các bạn sinh viên khóa 6 trường Đại học Cơ Điện và mọi người từng trải qua mái trường thân yêu ấy!
Xin cảm ơn mọi đóng góp ý kiến, bài vở, hình ảnh để "Hội K6 Cơ Điện" là nơi thân thiết của mỗi cựu SV K6I - K6MA - K6MB - ... thuở ban đầu 1970!
Blog chào mừng cựu sinh viên các khóa khác nhau của ĐH Cơ Điện vào thăm và cùng xây dựng Hội K6 Cơ Điện thành "sân chơi" chung của chúng ta!
Mời các anh chị và các bạn chưa quen blog nhấn vào đây . Các bạn cũng nên ghi nhớ địa chỉ blog dự phòng: http://k6bc11r.wordpress.comBan biên tập - K6BC11R Ban biên tập - K6BC11R Ban biên tập - K6BC11RBan biên tập - K6BC11RBan biên tập - K6BC11R -------- Email: k6bc11r@gmail.com

28 tháng 9, 2026

K10 CƠ ĐIỆN – ĐIỂM DANH SAU NĂM MƯƠI NĂM

 

K10 CƠ ĐIỆN – ĐIỂM DANH SAU NĂM MƯƠI NĂM

Bài của Vũ Ngọc Pi · Tháng 9 14, 2026 · 50 phút đọc

Điểm danh.

Minh “Hắn”. Hùng Bò. Bình Tàu. Dũng Tréc. Chính Tơ. Hằng Mèo. Bằng chui. Lộc “Chuột”. Thành “Mohin”…

Nếu chỉ nghe những cái tên ấy, khó ai nghĩ người đang được gọi đã ngoài bảy mươi. Chúng vẫn mang nguyên vẻ nghịch ngợm của một đám sinh viên vừa tan giờ học: người còn đứng ngoài hành lang A3, người đang rủ bạn sang T. Ba Nhất uống nước chè, người chờ một chuyến tàu ở ga Lưu Xá, người ngồi đâu đó trên tầng hai vừa ôm cây guitar lên là dưới sân đã có thêm mấy người dừng lại nghe.

Những cái tên ấy dường như không chịu già theo người mang nó.

Ngoài cuộc đời, năm tháng đã đặt trước tên họ biết bao chức danh: Anh hùng Lao động, Nhà giáo Nhân dân, Phó Giáo sư, Hiệu trưởng, Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc EVN, kỹ sư trưởng, nhà khoa học… Nhưng trở về K10, những lớp áo ấy gần như được đặt lại ngoài cửa. Anh hùng Lao động Hà Đình Minh lại thành Minh “Hắn”; nguyên Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam Nguyễn Tấn Lộc lại thành Lộc “Chuột”; những người từng đứng trên bục giảng, điều hành nhà máy, quản lý doanh nghiệp hay đi qua chiến trường lại trở về làm những chàng trai của năm 1974.

Bởi những biệt danh ấy có trước tất cả.

Có trước chức vụ.

Có trước học hàm.

Có trước những thành công, những khúc quanh và cả những mất mát mà cuộc đời sau này sẽ đặt lên vai mỗi người.

Năm 2011, trong một bài thơ viết cho cuộc gặp K10IB, Nguyễn Trung Thành – Thành “Mohin” – đã làm một việc rất giống ngày còn đi học: điểm danh lớp. Minh “Hắn”, Hùng “Bôm bốp”, Tuấn “Cầu rào”, Vượng “Phó sãi”, Châu “Nồi thủng”, Lộc “Chuột”, Cương “Ba chòm”, Ninh “Bẹt”… lần lượt được gọi lên. Mỗi cái tên kéo theo một tính nết, một trò nghịch, một câu chuyện mà chỉ những người từng sống với nhau những năm ấy mới hiểu hết.

Nhưng rồi cuộc điểm danh đang đầy tiếng cười bỗng chậm lại.

Bởi trong danh sách ấy đã có những người không còn có thể trả lời.

Và Nguyễn Trung Thành viết một ý rất giản dị: cứ tiếp tục điểm danh đi, không cần sổ sách nữa, bởi tên bè bạn đã nằm trong lòng mỗi người.

Có lẽ phải đi qua gần một đời người mới hiểu hết được một câu như thế.

Ngày còn trẻ, điểm danh là để biết ai có mặt trong lớp.

Năm mươi năm sau, người ta gọi tên nhau không còn để kiểm tra sĩ số. Người còn thì đáp lời; người ở xa được hỏi thăm; người lâu ngày mất liên lạc thì bạn bè tìm kiếm; còn người đã khuất vẫn được nhắc tới bằng cái tên năm xưa, như thể chỉ cần còn người nhớ để gọi thì người bạn ấy vẫn chưa hoàn toàn rời khỏi đội hình.

Bởi vậy, muốn kể câu chuyện K10 Cơ Điện, có lẽ không cần bắt đầu bằng một bảng thành tích, cũng chưa cần bắt đầu bằng những chức vụ mà họ đạt được sau này.

Hãy bắt đầu bằng một buổi điểm danh.

Rồi từ mỗi cái tên, lần ngược thời gian về ga Lưu Xá của năm 1974; về những căn phòng A3, những bữa cơm chưa đủ no, quán nước T. Ba Nhất, những chuyến tàu, những cây đàn, những người thầy; rồi theo họ ra chiến trường, vào nhà máy, lên giảng đường, đến những phòng thiết kế, phòng thí nghiệm và những miền đất xa.

Để xem năm mươi năm đã làm gì với những chàng trai, cô gái ấy.

Và để hiểu vì sao, sau tất cả những gì thời gian đã mang đi, họ vẫn còn gọi được đúng tên nhau.

K10 Cơ Điện - TNUT
K10 Cơ Điện trong cuộc hội ngộ năm 2009, kỷ niệm 35 năm ngày tựu trường. Từ những chàng trai, cô gái bước vào Cơ Điện năm 1974, những mái đầu đã bắt đầu bạc – nhưng cuộc tìm nhau vẫn còn tiếp tục. Ảnh tư liệu K10.

1. TỪ GA LƯU XÁ, MỘT THẾ HỆ BẮT ĐẦU

Muốn trở lại K10, có lẽ phải xuống ở ga Lưu Xá.

Cuối năm 1974, những chàng trai, cô gái từ nhiều miền đất mang ba lô, giấy báo nhập học và sự ngơ ngác của tuổi mười bảy, mười tám tìm về Trường Đại học Cơ Điện Bắc Thái. Có người từ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định; có người từ miền trung du, miền núi; có người vừa rời ghế phổ thông, nhưng cũng có những người đã đi qua quân ngũ, chiến trường rồi mới trở lại giảng đường. Họ xuống tàu ở Lưu Xá, men theo những con đường còn rất khác hôm nay để vào trường, và từ đó bước vào một thế giới mà nửa thế kỷ sau chỉ cần gọi vài địa danh – A3, T. Ba Nhất, nhà ăn, Gang Thép, ga Lưu Xá – là cả một thời tuổi trẻ lập tức hiện lên.

Giữa một K10 mà nam sinh chiếm gần như toàn bộ đội hình, chỉ có bảy cô gái. Thật may, một bức ảnh cũ còn giữ được cả bảy người bên nhau – và sau hơn nửa thế kỷ, từng gương mặt trong ảnh vẫn còn được gọi đúng tên.

Bảy nữ sinh của K10 Cơ Điện – toàn bộ những cô gái của khóa 1974-1979 – trong khuôn viên Trường Đại học Cơ Điện những năm 1970. Từ trái: Thái Hồng Diệp (K10IA), Đỗ Thị Sơn (K10IB), Nguyễn Kim Hải (K10IA), Trần Tuyết Nga (K10MC), Nguyễn Tuyết Mai (K10MC), Vũ Thị Hồng (K10IB), Nguyễn Thị Định (K10MC). Giữa một khóa học gần như toàn nam sinh, bức ảnh quý còn giữ lại đủ bảy gương mặt nữ của K10..
K10 Cơ Điện - TNUT
K10IB những năm tháng sinh viên. Phía sau những gương mặt tuổi hai mươi là khu nhà ở của một thời Cơ Điện còn nhiều thiếu thốn – nơi những biệt danh, tình bạn và biết bao câu chuyện theo họ suốt nửa thế kỷ. Ảnh tư liệu K10.
K10 Cơ Điện - TNUT
K10IB trở lại mái trường sau gần nửa thế kỷ. Những gương mặt đã khác, những mái đầu đã bạc; nhưng đội hình của lớp vẫn còn được gọi lại bằng những cái tên và biệt danh của tuổi hai mươi. Ảnh tư liệu K10.

Những ký ức còn lại không sang trọng.

Chúng có mùi cơm độn, mùi khói bếp, thuốc lá cuộn năm xu, tiếng thìa va vào bát, tiếng còi gọi thể dục sáng sớm và tiếng bánh tàu nghiến vào đường ray ở Lưu Xá.

Có thứ canh mà sinh viên đặt tên là “canh toàn quốc”, bởi nước thì gần như phủ toàn bộ, còn rau chỉ lơ thơ làm nhiệm vụ chứng minh rằng món ấy vẫn có thể gọi là canh. Có những bát mì được gọi vui là “mì không giặc lái”, nghèo đến mức chẳng có gì đáng kể đi cùng. Có chuyện góp phiếu ăn, chuyện tẩy phiếu, chuyện tháo vạt giường làm dụng cụ nấu mì, chuyện đêm rét kéo nhau sang T. Ba Nhất uống chén trà, chuyện muốn tắm phải đi xuống khu Gang Thép. Nguyễn Trung Thành khi nhìn lại lớp mình còn nhớ cả tiếng còi “cờ đỏ” buổi sáng, những ngày lao động đắp đập, măng đắng, cơm khê, buổi xem phim chen chúc, điếu thuốc năm xu và những tối bụng đói vẫn ngồi với nhau cười đến khuya.

K10 Cơ Điện - TNUT
Vũ Thị Hồng và Đỗ Thị Sơn – hai nữ sinh K10IB – trong một buổi tập dân quân tự vệ năm 1974. Giữa một khóa học mà nam sinh chiếm tuyệt đại đa số, những cô gái Cơ Điện cũng đi qua đủ những năm tháng học tập, lao động và rèn luyện của thế hệ mình. Ảnh tư liệu TNUT.

Anh Mai Xuân Hòa K10MB, sau này từng ở lại trường làm giảng viên Công nghệ Chế tạo máy rồi chuyển về Hải Phòng công tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và quản lý khu kinh tế, khi nhắc lại Ngày truyền thống Trường Cơ Điện 6/12 đã viết một câu khiến cái nghèo của thời ấy hiện lên không cần tô đậm thêm:

“Gặp mặt nhớ về ngày mà cả trường, từ thầy đến trò, từ nhân viên đến hiệu trưởng mới có được một bữa ăn no và ngon. Còn lại là những ngày đói dài dằng dặc.”

“Canh toàn quốc”, “mì không giặc lái”, bo bo, ngô độn… vì thế không chỉ là những giai thoại được phóng đại sau nhiều năm. Chúng từng là một phần có thật của đời sống.

Nhưng điều kỳ lạ là khi đọc hàng chục hồi ức K10, cái đọng lại mạnh nhất lại không phải sự đói.

Mà là tiếng cười.

Họ kể cái khổ bằng một thứ giọng rất riêng: không than thân, không tô hồng, cũng không né tránh. Cái thiếu được gọi đúng tên, rồi ngay lập tức bị kéo xuống bằng một câu đùa. Một nồi canh loãng thành “canh toàn quốc”. Một bát mì nghèo thành “mì không giặc lái”. Một lần trốn vé tàu, một cú nhảy tàu, một trò nghịch ở khu tắm Gang Thép, một đôi tất khiến cả phòng xem phim phải chịu trận… sau ba bốn chục năm đều có thể trở thành chuyện để một bàn bạn già cười nghiêng ngả.

Đó không phải cách người ta quên gian khó.

Đó là cách một thế hệ đi qua gian khó mà không để gian khó lấy mất khả năng vui sống.

Và có lẽ cũng trong những năm ấy, khi một suất cơm phải chia, một món quà quê phải bẻ nhỏ cho nhiều người, một chuyến tàu về nhà phải tính đủ cách mới đi được, giữa những người xa lạ bắt đầu hình thành một thứ liên kết sâu hơn chữ “bạn học”.

Họ sống với nhau quá gần để có thể quên nhau dễ dàng.

Gần đến mức biết người bên cạnh ăn khỏe hay ăn ít, học môn nào giỏi, sợ thầy nào nhất, đá bóng ở vị trí nào, mê cô gái nào ở trường bên; biết cả ai chơi đàn, ai hát, ai hay trốn tiết, ai đến kỳ thi mới bắt đầu cuống lên tìm vở.

Gần đến mức đặt cho nhau những cái tên mà năm mươi năm sau vẫn chưa chịu già.

2. A3 – NƠI NHỮNG CÂY ĐÀN KHÔNG CHỊU IM

Nhưng K10 không chỉ được nhớ bởi những chuyện đói và nghịch.

Ở nhà A3 còn có tiếng đàn.

Thật tình cờ, một nhóm chàng trai mê âm nhạc lại tụ về K10MC. Nguyễn Văn Độ từ Nam Định lên mang theo chiếc accordion. Nguyễn Văn Chính – Chính Tơ – có guitar. Vũ Thế Hằng – Hằng Mèo – cũng chơi guitar, rồi mandolin. Đoàn Đức Chính – Chính Béo, Chính Đen – chơi guitar bass.

Không có quyết định thành lập.

Không có lễ ra mắt.

Không bảng tên ban nhạc.

Mấy chàng trai gặp nhau, mấy cây đàn gặp nhau, thế là âm nhạc bắt đầu.

K10 Cơ Điện - TNUT
Một thời Cơ Điện hát. Từ trái: Nguyễn Văn Độ (K10) – accordion; Lê Kim Loan (K11) – đơn ca; Vũ Thế Hằng (K10M) – guitar; Đào Bá Văn (K5, đi bộ đội, sau trở về học cùng K9) – đơn ca. Những gương mặt nòng cốt của Đội văn nghệ Trường Đại học Cơ Điện những năm 1970, khi đời sống còn nhiều thiếu thốn nhưng tiếng đàn, tiếng hát vẫn đầy ắp ký túc xá. Ảnh: Vũ Thế Hằng cung cấp.

Độ không chỉ chơi accordion mà còn biết guitar, violin, phối bè, viết nhạc. Chính Tơ thì trở thành một cây guitar khiến nhiều thế hệ sinh viên nhớ mãi. Có những buổi anh ngồi trên tầng hai A3 chơi độc tấu, người nghe đứng ngoài hành lang, rồi kéo xuống cả sân trước, sân sau. Vũ khúc Tây Ban Nha, Bài ca hy vọng, Cô gái vót chông, những giai điệu Nga, Cuba, quốc tế và cả Beatles vang giữa ký túc xá của một trường kỹ thuật đang còn rất nghèo. Khi Chính solo, Hằng đệm, Chính Béo giữ bass; một ban nhạc sinh viên cứ thế thành hình và dần trở thành hạt nhân nhạc công của Đội văn nghệ Trường.

Năm 1975, Trường Cơ Điện tròn mười năm.

Nhạc sĩ Đàm Thanh viết Trường ca Cơ Điện. Một dàn hợp xướng gần một trăm người được tập hợp; Đào Bá Văn, người lính trở về, tham gia chỉ huy; Nguyễn Trọng Chiến lĩnh xướng. Phía dưới gần một trăm tiếng hát ấy, ban nhạc đệm chỉ có bốn nhạc cụ: accordion, guitar, mandolin và violin.

Nguyễn Văn Độ nhận phần khó. Anh viết phần riêng cho từng bè nhạc cụ rồi tổ chức tập ghép để bốn cây đàn nâng được cả một dàn hợp xướng lớn. Accordion là Độ. Guitar là Chính Tơ. Mandolin là Hằng Mèo. Violin là thầy Nguyễn Hùng, Bộ môn Vật lý.

Chỉ bốn cây đàn.

Nhưng phía sau chúng là những giờ tập, là một thứ say mê không đòi hỏi phải đủ đầy mới được phép tồn tại.

K10 học cơ khí và điện. Họ học sức bền, máy, mạch, hình họa, công nghệ. Nhưng có những buổi tối ở A3, thứ họ lắp với nhau không phải một bộ truyền hay một mạch điện.

Họ lắp những âm thanh.

Và chính ở đây, cái nghèo của Cơ Điện hiện lên theo một cách khác: vật chất có thể thiếu, nhưng đời sống tinh thần không chịu nghèo theo.

Cơm có thể độn.

Áo quần có thể cũ.

Nhưng tiếng đàn vẫn có thể là Beatles.

Năm mươi năm sau, những cây đàn ấy vẫn chưa hoàn toàn im.

Chính Tơ đã đi qua gần ba mươi năm làm kỹ sư trưởng ở các khách sạn lớn, trong đó có Daewoo Hà Nội, Sheraton Nha Trang, Marriott Hà Nội; nghỉ hưu rồi vẫn chơi guitar. Hằng Mèo trải qua một hành trình dài của nghề nghiệp, từ ngành điện lực đến công tác đào tạo, nhưng guitar, mandolin, organ, trống vẫn theo anh; bây giờ người nhạc công K10MC năm nào còn chỉ cho các cháu những nốt nhạc đầu tiên.

Nguyễn Văn Độ thì không có được quãng đời dài ấy. Anh mất sau khi ra trường chưa lâu vì tai nạn giao thông.

Nhưng nếu một người đã rời cuộc đời mà hơn nửa thế kỷ sau bạn bè vẫn nhớ cây đàn anh chơi, phần bè anh viết, vị trí anh ngồi trong một bức ảnh cũ, thì có lẽ anh vẫn còn một chỗ trong buổi điểm danh K10.

3. TỪ ĐỒ ÁN PISTON ĐẾN NHỮNG CỖ MÁY NGOÀI ĐỜI

Trong K10MC còn có Nguyễn Văn Khôi, sinh năm 1956 ở Yên Phong, Bắc Ninh.

Thời sinh viên, Khôi làm đồ án tốt nghiệp Công nghệ Chế tạo máy với đề tài “Chế tạo piston”, do thầy Võ Xuân Quang hướng dẫn. Hơn bốn mươi năm sau, anh vẫn nhớ người thầy nghiêm khắc ấy bằng một chuyện rất nhỏ: khi thông qua đồ án, có sinh viên cứ “vâng, vâng” mỗi lần thầy chỉ lỗi. Biết trò chưa thật hiểu, thầy hỏi gắt: “Vâng cái gì?” Cả nhóm vừa sợ vừa nể.

Anh còn nhớ thầy Phiếu dạy Kinh tế tổ chức; mỗi lần kiểm tra phần tính toán, thầy lại rút chiếc máy tính cầm tay ra tính ngay trước mặt sinh viên, khiến người đứng chờ bên cạnh không ai dám chủ quan. Đến ngày bảo vệ, thầy Phiếu hỏi Khôi vì sao sản lượng chỉ vài ngàn chiếc piston mà lại thiết kế theo dạng sản xuất loạt lớn. Khôi trả lời rằng có thể tổ chức dây chuyền theo loạt lớn để đạt năng suất cao, sau vài tháng chuyển sang gia công một cỡ piston khác, nhờ đó vừa tận dụng thiết bị vừa giữ được hiệu quả sản xuất. Thầy cho 9 điểm và khen: “Sinh viên mà nghĩ được thế thì khá lắm.”

Nhìn lại, câu trả lời của chàng sinh viên năm ấy đã có một mầm tư duy mà người kỹ sư, người quản lý nhà máy sau này tiếp tục mang theo: không chỉ nhìn một chi tiết, mà nhìn cả hệ thống sản xuất phía sau nó.

Khôi về với Diesel Sông Công và sau này trở thành một trong những người lãnh đạo Nhà máy. Khoảng đầu những năm 2000, sau một chuyến khảo sát ở nước ngoài cùng anh Toàn, Trưởng phòng Thiết kế, anh trở về với một bài toán rất cụ thể: phải làm được một hộp giảm tốc vừa có thể sử dụng nguồn động lực điện, vừa có thể ghép với động cơ diesel; đồng thời kết cấu phải gọn, khối lượng và kích thước phải giảm đến mức hợp lý để hạ giá thành. Anh giao cho Phòng Thiết kế nửa tháng phải hoàn thành tính toán, thiết kế và một tháng phải có sản phẩm thật.

Một tháng sau, hộp giảm tốc GT10 ra đời.

Sản phẩm nhanh chóng được thị trường trong cả nước đón nhận và trở thành một trong những sản phẩm truyền thống của Diesel Sông Công. Có những thời điểm, theo anh Khôi nhớ lại, hơn 10.000 hộp GT10 được tiêu thụ trong một tháng. Phía sau con số ấy không chỉ là doanh thu của một sản phẩm bán chạy, mà còn là việc làm và thu nhập của nhiều bộ phận trong Nhà máy. Đến nay, GT10 vẫn còn được duy trì sản xuất, dù sản lượng không còn ở thời kỳ cao điểm.

Câu chuyện ấy làm người ta nhớ lại chàng sinh viên từng đứng trước Hội đồng bảo vệ đồ án Chế tạo piston năm 1979. Khi thầy Phiếu hỏi tại sao sản lượng chỉ vài trăm chiếc mà lại thiết kế theo dạng sản xuất loạt lớn, Khôi đã trả lời bằng cách nhìn vượt ra ngoài một lô piston trước mắt để tính đến khả năng chuyển đổi sản phẩm và tận dụng cả dây chuyền. Hơn hai mươi năm sau, ở Diesel Sông Công, cách nghĩ từ một chi tiết đến cả hệ thống sản xuất ấy dường như vẫn còn nguyên.

Có một chuyện khác anh Khôi nhớ mãi. Năm 2001, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đến thăm và làm việc tại Diesel Sông Công; cùng đoàn có Bộ trưởng Bộ Cơ khí và Luyện kim Phan Thanh Liêm. Khi xuống Xưởng Cơ khí III, ông Phan Thanh Liêm nhìn thấy một bàn có dầu và bột nghiền dùng trong công đoạn chế tạo kim phun – bơm cao áp, tưởng đó là bàn máp dùng cho kiểm tra chính xác nên cầm tay ông Phó Giám đốc kỹ thuật nhà máy và hỏi sao mặt bàn lại như vậy. Nguyễn Văn Khôi đứng gần đó đã kịp giải thích: đây không phải bàn máp mà là bàn nghiền; dầu và bột nghiền trên mặt bàn chính là những thứ cần có cho công nghệ đang thực hiện.

Chỉ là một tình huống diễn ra trong vài phút giữa một chuyến thăm cấp cao, nhưng anh Khôi vẫn nhớ sau nhiều năm. Bởi đôi khi bản lĩnh chuyên môn của một người kỹ sư không nằm trong những lời nói lớn lao; nó hiện ra ở khoảnh khắc nhìn đúng một thiết bị, hiểu đúng một công nghệ và đủ chắc nghề để giải thích ngay khi cần.

Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm và làm việc tại Diesel Sông Công năm 2001. Trong chuyến thăm này, một tình huống nhỏ tại Xưởng Cơ khí III đã trở thành kỷ niệm nghề mà Nguyễn Văn Khôi K10MC còn nhớ nhiều năm sau. Ảnh tư liệu do anh Nguyễn Văn Khôi cung cấp.

Những chuyện Khôi nhớ về đời mình cứ quay về máy, về công nghệ, người thầy, người thợ và cách giải một bài toán sản xuất. Có lẽ vì thế, khi nói về nghề sau gần một đời người, anh không dùng một câu lớn lao:

“Nghề Cơ Điện hay lắm em ơi.”

Một câu nghe rất giản dị. Nhưng phía sau nó là quãng đường từ một đồ án chế tạo piston đến những năm tháng trong một nhà máy cơ khí lớn.

Có người giữ Cơ Điện bằng một bài hát. Có người bằng một cuốn sách.

Với Nguyễn Văn Khôi, tình yêu ấy dường như nằm trong cách người kỹ sư nhìn vào một cỗ máy và vẫn muốn làm cho nó tốt hơn, gọn hơn, hiệu quả hơn.

4. NĂM 1979 – TỪ NHỮNG CĂN PHÒNG K10, CÁC CON ĐƯỜNG TỎA ĐI

Năm 1979, K10 rời trường.

Nhưng họ không bước ra trong một thời bình yên hoàn toàn.

Tháng Hai năm ấy, chiến tranh nổ ra ở biên giới phía Bắc. Nguyễn Trọng Bằng K10MC chiến đấu cùng đơn vị tại khu vực cầu Khánh Khê, Lạng Sơn. Bốn mươi sáu năm sau, anh trở lại nơi ấy; cây cầu vẫn nối hai bờ, nhưng người lính trẻ ngày nào đã đi qua gần trọn một đời kỹ sư.

Sau chiến tranh, Nguyễn Trọng Bằng đi vào những bài toán của một đất nước đang thiếu thiết bị, thiếu tài liệu và thiếu cả những công nghệ tưởng chừng rất căn bản.

Năm 1985, khi được giao thiết kế máy cán thép mini mà gần như không có tài liệu chuyên ngành trong tay, anh cùng kỹ sư Phùng Ngọc Cầm đạp xe hàng chục cây số trở về trường tìm sách. Cuốn giáo trình Tính toán lỗ hình cán thép cũ tìm được trong thư viện trở thành chiếc chìa khóa để anh tự học một lĩnh vực mới. Ba tháng sau, nhóm thiết kế chế tạo thành công máy cán thép mini; rồi từ cán thép, anh đi sang tuyển khoáng, sấy gỗ chân không, Plasma nhiệt, Plasma lạnh.

Nguyễn Trọng Bằng không trung thành với một công nghệ. Anh trung thành với những bài toán thực tế đặt ra trước mặt mình.

Khi đất nước cần thép, anh học cán thép.

Khi ngành mỏ cần thiết bị tuyển, anh làm máy tuyển.

Khi doanh nghiệp gỗ cần công nghệ sấy, anh nghiên cứu sấy chân không.

Khi cần Plasma, người kỹ sư đã nghỉ hưu lại trở thành người học trò của một công nghệ mới.

K10 Cơ Điện - TNUT
Nguyễn Trọng Bằng K10MC bên hệ thống Plasma – một trong những công nghệ anh tiếp tục theo đuổi khi đã nghỉ hưu. Từ máy cán thép, tuyển khoáng, sấy chân không đến Plasma, với anh, gặp một bài toán mới cũng có nghĩa là lại bắt đầu học một điều mới.

Ở một hướng khác của K10 là PGS.TS., Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đình Mãn.

Nếu Nguyễn Trọng Bằng đi xa cùng những bài toán công nghệ, thì thầy Mãn lại gắn gần trọn đời nghề nghiệp với giảng đường và một môn học. Trong 43 năm với Vẽ kỹ thuật, từ giảng viên đến cán bộ quản lý, rồi sau khi nghỉ hưu vẫn trở lại lớp, thầy theo đuổi một câu hỏi tưởng giản dị mà không hề dễ: làm sao để sinh viên nhìn thấy vật thể ba chiều phía sau những đường nét hai chiều trên bản vẽ.

K10 Cơ Điện - TNUT
PGS.TS., NGƯT Nguyễn Đình Mãn K10MA trong một giờ Vẽ kỹ thuật. Từ những đường nét hai chiều trên bảng đến mẫu vật ba chiều trong tay người thầy – đó là cách thầy đã dành hàng chục năm để giúp sinh viên “nhìn thấy” vật thể phía sau bản vẽ.

Từ trăn trở ấy, năm 2017 thầy đề xuất xây dựng phòng học và thực hành Vẽ kỹ thuật; từ một đề án ban đầu, hàng trăm mẫu vật trực quan được hình thành để đưa thế giới cơ khí thật đến gần hơn với những hình chiếu trên giấy.

Nhưng điều đáng quý ở thầy Mãn không chỉ nằm trong những năm tháng đứng lớp. Suốt hành trình ấy, thầy còn tìm cách gom những gì một đời dạy học đã tích lũy được để trao lại cho người đến sau. Thầy chủ biên hai giáo trình: Vẽ kỹ thuật bằng máy tính (AutoCAD), Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật năm 2010, và Hình họa – Vẽ kỹ thuật, Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên năm 2020.

Công trình mà thầy dành nhiều tâm sức hơn cả lại là bộ bài giảng PowerPoint cho ba học phần: Hình họa – Vẽ kỹ thuật, Vẽ kỹ thuật cơ khí và Vẽ kỹ thuật bằng máy tính (AutoCAD). Trong khoảng năm năm, thầy miệt mài xây dựng 1.444 slide với gần một vạn hiệu ứng. Những con số ấy không chỉ nói về khối lượng. Với một môn học mà điều khó nhất là giúp sinh viên từ những đường nét hai chiều hình dung ra vật thể ba chiều, mỗi hình vẽ, mỗi bước xuất hiện trên màn hình, mỗi chuyển động được thiết kế đều nhằm trả lời một câu hỏi mà thầy theo đuổi suốt đời dạy học: làm thế nào để điều khó nhìn trở nên nhìn thấy được, điều khó hiểu trở nên sáng rõ hơn.

Trước khi nghỉ hưu, thầy trao lại toàn bộ bộ bài giảng ấy cho các thầy cô trong nhóm Vẽ kỹ thuật của Bộ môn để tiếp tục tham khảo, sử dụng và phát triển. Thầy gọi đó, một cách giản dị, là “tài sản lớn nhất” mình có thể tặng lại cho thế hệ trẻ.

Có lẽ chính chi tiết ấy nói về di sản của Nguyễn Đình Mãn đầy đủ hơn bất kỳ chức vụ nào thầy từng giữ. Một người thầy rồi sẽ có ngày rời bục giảng; giáo trình có thể được tái bản, phần mềm rồi cũng thay đổi, những bài giảng hôm nay mai sau có thể được làm lại bằng công nghệ mới. Nhưng điều còn lại lâu hơn là phần tri thức của một đời nghề nghiệp đã không được giữ cho riêng mình.

Với thầy Mãn, trao lại nghề không phải là để người sau làm đúng như người trước đã làm, mà là đặt vào tay họ những gì mình đã mất hàng chục năm để học, năm năm để chắt lọc và hàng nghìn giờ để làm nên – để người đến sau có thể bắt đầu từ một bậc cao hơn.

Cũng từ K10 ấy, PGS.TS., Nhà giáo Ưu tú Phan Quang Thế K10MA lại có một hành trình đặc biệt với chính mái trường đã đào tạo mình. Từ chàng sinh viên ngành Chế tạo máy khóa 1974 -1979, anh được giữ lại trường giảng dạy, tiếp tục học tập và nghiên cứu, trong đó có thời gian học Thạc sĩ tại Úc, rồi từng bước trưởng thành từ người thầy, nhà khoa học đến cán bộ quản lý. Từ tháng 10/2011 đến tháng 4/2016, anh đảm nhiệm cương vị Hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên.

Có những người K10 rời Cơ Điện để mang kiến thức của mình đến những nhà máy, doanh nghiệp và những miền đất khác. Phan Quang Thế lại đi một vòng rất khác: từ người học trò trở thành người đứng đầu chính mái trường đã chắp cánh cho tuổi trẻ mình.

Và có một câu chuyện trong những năm anh làm Hiệu trưởng khiến hành trình ấy trở nên đặc biệt gần gũi với ký ức Cơ Điện.

Khi K10, với những người tâm huyết như Hùng Bò, cùng các thế hệ cựu sinh viên Cơ Điện vận động xây dựng Tháp Bút Cơ Điện để tặng Nhà trường, Phan Quang Thế đã nhiệt tình ủng hộ và tạo điều kiện để ý tưởng ấy trở thành hiện thực. Anh còn đích thân lựa chọn vị trí đặt Tháp Bút trong khuôn viên trường. Năm 2016, những cây bút vươn lên ở nơi ấy như một món quà của những người học trò cũ gửi lại mái trường – một cách để lòng biết ơn có hình hài và ký ức có một nơi trú ngụ.

Với Phan Quang Thế, có một mối nối rất riêng giữa chàng sinh viên K10MA năm ấy và người Hiệu trưởng nhiều năm sau. Năm 1974, anh bước vào Cơ Điện với tư cách một sinh viên ngành Chế tạo máy. Hơn bốn mươi năm sau, khi đang đứng đầu Nhà trường, anh lại nhiệt tình ủng hộ món quà mà K10 cùng các thế hệ cựu sinh viên Cơ Điện muốn gửi lại mái trường và đích thân lựa chọn vị trí đặt Tháp Bút Cơ Điện.

K10 Cơ Điện - TNUT
Khánh thành Tháp Bút Cơ Điện năm 2016. Bên món quà của những thế hệ đi trước gửi lại Nhà trường có Hùng Bò (K10MA), PGS.TS., NGƯT Phan Quang Thế (K10MA, khi đó là Hiệu trưởng TNUT) và Trần Thanh Tuân (K9). K10 là lực lượng chủ lực vận động, góp sức để Tháp Bút hiện hữu – một nơi để ký ức Cơ Điện đứng lại giữa mái trường hôm nay. Ảnh tư liệu TNUT.

Anh Phan Quang Thế mất năm 2019. Một đời người đã dừng lại, nhưng Tháp Bút vẫn đứng ở nơi anh từng lựa chọn. Mỗi lần những người Cơ Điện trở về, công trình ấy không chỉ nhắc đến tấm lòng của những cựu sinh viên dành cho Nhà trường, mà còn gợi nhớ một người K10 từng đi từ ghế sinh viên đến cương vị Hiệu trưởng và, khi có thể, đã dành cho ký ức Cơ Điện một chỗ đứng trong chính mái trường của mình.

Mai Xuân Hòa K10MB lại đi theo một con đường khác. Sau khi tốt nghiệp, anh ở lại Trường làm giảng viên Bộ môn Công nghệ Chế tạo máy. Những năm ấy, công việc của một giảng viên kỹ thuật không chỉ nằm trên bục giảng. Anh thường xuống Phòng chế thử của Khoa Cơ khí, trực tiếp đứng máy tiện để nâng cao năng lực thực hành và tham gia những công việc sản xuất, phục vụ chuyên môn của Nhà trường. Anh còn tham gia Ban Chấp hành Liên chi đoàn Khoa Cơ khí, phụ trách hoạt động khoa học cùng các phong trào văn hóa, thể thao. Bởi vậy, hình ảnh người giảng viên trẻ K10 vừa đứng lớp, vừa đứng máy, vừa có mặt trong những hoạt động của sinh viên cũng gợi lại một nét rất riêng của Cơ Điện thời ấy: học nghề, dạy nghề, làm nghề và sống cùng phong trào của Nhà trường dường như chưa bao giờ đứng quá xa nhau.

Đến năm 1988, vì gia đình ở Hải Phòng, anh chuyển về công tác trong ngành Khoa học và Công nghệ của thành phố. Nhưng rời giảng đường không có nghĩa là rời kỹ thuật. Tại Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học Kỹ thuật Hải Phòng, với cương vị Xưởng trưởng, anh trực tiếp chủ trì đề tài “Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo bơm nổi di động, công suất 8-15 CV phục vụ thủy lợi”. Công trình được trao Giải thưởng Khoa học Nguyễn Bỉnh Khiêm thành phố Hải Phòng năm 1996. Từ chiếc máy tiện ở Phòng chế thử Khoa Cơ khí đến một sản phẩm khoa học – công nghệ phục vụ sản xuất ngoài đời, có một sợi dây nghề nghiệp vẫn nối liền: người kỹ sư Cơ Điện tiếp tục giải những bài toán kỹ thuật bằng chính nghề mình đã học.

Khoảng mười năm sau, anh chuyển sang công tác tại Ban Quản lý Khu Kinh tế Hải Phòng, từng giữ cương vị Phó Trưởng ban và nghỉ hưu tại đây. Nhìn lại, con đường của Mai Xuân Hòa đi qua khá nhiều không gian – giảng đường, xưởng máy, khoa học ứng dụng rồi quản lý phát triển công nghiệp – nhưng phía sau những vị trí khác nhau ấy vẫn có thể nhận ra dấu chân của chàng sinh viên K10MB bước ra từ Cơ Điện.

K10 Cơ Điện
Mai Xuân Hòa K10MB thời còn là giảng viên Bộ môn Công nghệ Chế tạo máy, trực tiếp đứng máy tiện tại Phòng chế thử – Khoa Cơ khí. Những năm ấy, anh còn tham gia Ban Chấp hành Liên chi đoàn Khoa, phụ trách hoạt động khoa học và phong trào văn thể. Với người thầy Cơ Điện ngày ấy, bục giảng, xưởng máy và đời sống sinh viên chưa bao giờ cách nhau quá xa. Ảnh anh Mai Xuân Hòa cung cấp.

PGS.TS. Lại Khắc Lãi cũng thuộc những người K10 gắn phần lớn đời nghề nghiệp với khoa học và giáo dục. Từ Bộ môn Cơ sở Đo lường và Điện tử, anh đi qua công tác quản lý khoa học của TNUT rồi Đại học Thái Nguyên; nghỉ hưu nhưng lại trở về TNUT tiếp tục giảng dạy, nghiên cứu và hướng dẫn nghiên cứu sinh. Đến nay đã có 7 nghiên cứu sinh hoàn thành luận án tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của anh; anh là chủ biên hoặc đồng tác giả của 7 cuốn sách, giáo trình trong các lĩnh vực Điều khiển số, hệ mờ – nơ ron, lý thuyết mạch tín hiệu, cơ sở mạch điện, trường điện từ…

K10 Cơ Điện - TNUT
PGS.TS. Lại Khắc Lãi (K10IA) tại Hội nghị toàn quốc về Điều khiển và Tự động hóa. Nghỉ hưu có thể khép lại một chức vụ, nhưng với người thầy K10 ấy, con đường học thuật vẫn tiếp tục – trong những cuốn sách, những công trình nghiên cứu và những tiến sĩ được đào tạo cho thế hệ sau.

Có những người thầy để lại dấu ấn bằng số năm đứng lớp. Có người bằng những cuốn sách. Có người bằng những học trò đã trưởng thành.

Lại Khắc Lãi để lại cả ba.

Những cuộc đời ấy cho thấy từ một K10 năm 1974, những con đường về sau có thể tỏa rộng đến nhường nào.

Nhưng nếu muốn nhìn rõ nhất một lớp K10 sau khi bước ra khỏi Cơ Điện, có lẽ phải dừng lại lâu hơn một chút ở K10IB.

5. K10IB – MỘT LỚP HỌC, NHIỀU CON ĐƯỜNG LỚN

K10IB là một lớp đặc biệt.

Những năm còn ở Trường Cơ Điện, K10IB đã là một tập thể đặc biệt. Lớp được công nhận Tập thể lớp XHCN, và năm 1978, Nguyễn Đức Đoàn – Bí thư Chi đoàn K10IB – được vinh dự đại diện cho đoàn Trường Đại học Cơ Điện tham dự Festival Sinh viên các nước XHCN tại Praha, Tiệp Khắc. Với một sinh viên Cơ Điện trong những năm đất nước còn vô cùng khó khăn, chuyến đi ấy không chỉ là một kỷ niệm hiếm có của riêng Nguyễn Đức Đoàn, mà còn là một dấu mốc đáng nhớ của cả tập thể K10IB.

Rồi từ lớp học ấy, những con đường về sau tỏa đi rất xa. Có Anh hùng Lao động Hà Đình Minh, hai Nhà giáo Nhân dân Phạm Hữu Đức Dục và Dương Đức Phương; có Nguyễn Tấn Lộc – Lộc “Chuột”, người sau này trở thành Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Nhưng nếu chỉ nhìn vào những danh hiệu và chức vụ ấy thì vẫn chưa thấy hết điều đáng kể nhất của K10IB.

Nếu chỉ dừng ở những chức danh ấy, câu chuyện dễ biến thành một bảng thành tích.

Nhưng điều đáng kể hơn nằm phía sau danh hiệu.

Minh “Hắn” – lớp trưởng

Hà Đình Minh sinh năm 1952 ở Thọ Xuân, Thanh Hóa, đã là một người lính trước khi trở thành sinh viên. Năm 1971, anh nhập ngũ, chiến đấu tại mặt trận Trị – Thiên trong đội hình Sư đoàn 304; năm 1974 xuất ngũ rồi vào K10IB.

Anh lớn tuổi hơn phần đông bạn trong lớp, là cán bộ được cử đi học, nhưng theo hồi ức của chị Đỗ Thị Sơn K10IB, lại học rất giỏi, các điểm thi hầu như đều đạt 4 và 5 trong hệ điểm 5. Anh làm lớp trưởng K10IB trong nhiều năm.

Sau khi tốt nghiệp, Hà Đình Minh gắn bó gần bốn mươi năm với Nhà máy động cơ điện Việt – Hung, đi từ một kỹ sư Phòng Cơ điện đến những vị trí quản lý cao nhất: Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc VIHEM; anh được phong Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, cùng nhiều phần thưởng lao động khác.

Nhưng có những chi tiết nói về con người Hà Đình Minh nhiều hơn chức vụ.

Khi đã là lãnh đạo VIHEM, anh vẫn ưu tiên nhận sinh viên Cơ Điện về thực tập. Trong những cuộc gặp của K10IB, theo chị Đỗ Thị Sơn, anh thường xuyên hỗ trợ kinh phí nhưng luôn giấu tên, không muốn anh em biết người đóng góp là mình.

Ngày trẻ lo việc lớp bằng tư cách lớp trưởng.

Khi thành đạt vẫn lo việc lớp, chỉ khác là lặng lẽ hơn.

Có lẽ những khoản tiền không mang tên ấy nói được khá nhiều về một con người: anh muốn có mặt trong niềm vui chung, nhưng không cần tên mình đứng trước niềm vui đó.

Hà Đình Minh mất ngày 18 tháng 7 năm 2019, đúng vào năm K10 kỷ niệm 45 năm nhập trường.

Người lính Trị – Thiên, chàng sinh viên giỏi, người lớp trưởng nhiều năm rồi Anh hùng Lao động đã rời đội hình.

Nhưng trong K10IB, anh vẫn là:

Minh “Hắn” – lớp trưởng.

Hai người thầy từ K10IB

Phạm Hữu Đức Dục lại chọn con đường giáo dục. Tốt nghiệp K10, anh ở lại Cơ Điện giảng dạy tại Bộ môn Cơ sở Kỹ thuật Điện – Đo lường – Điện tử từ 1979 đến 1983; sau đó chuyển về Trường Trung cấp Kỹ thuật Công nghiệp, đi cùng quá trình phát triển của cơ sở ấy và về sau trở thành Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp. Năm 2011, anh được phong Phó Giáo sư; năm 2015 được phong Nhà giáo Nhân dân.

Dương Đức Phương cũng bắt đầu từ chính mái trường vừa đào tạo mình. Sau khi tốt nghiệp, anh ở lại giảng dạy Máy điện – Khí cụ điện, từng giữ cương vị Trưởng Khoa Điện; năm 1985 chuyển về Trường Công nhân Kỹ thuật Tàu cuốc Hưng Yên, sau này trở thành Hiệu trưởng và được phong Nhà giáo Nhân dân. Anh mất năm 2008 khi mới 51 tuổi.

Ba người bạn cùng một lớp.

Một người đi từ chiến trường đến công nghiệp chế tạo máy điện và trở thành Anh hùng Lao động.

Hai người bước lên bục giảng, dành phần lớn cuộc đời cho đào tạo và trở thành Nhà giáo Nhân dân.

Lộc “Chuột” – từ K10IB đến EVN

Cùng lớp ấy còn có Nguyễn Tấn Lộc – Lộc “Chuột”, sinh năm 1957, tốt nghiệp ngành Điện khí hóa xí nghiệp năm 1979. Những năm đầu ra trường, anh làm cán bộ kỹ thuật tại Xí nghiệp Cơ khí Nam Hà ở Biên Hòa, rồi chuyển về Công ty Điện lực 3 tại Đà Nẵng. Giữa hành trình ấy còn có hai năm quân ngũ, từ 1982 đến 1984, trước khi anh trở lại ngành Điện và gắn bó với nó gần trọn đời nghề nghiệp.

Từ một chuyên viên kỹ thuật lưới điện, Nguyễn Tấn Lộc lần lượt đi qua những công việc kỹ thuật an toàn, giám sát điện năng, thanh tra, kế hoạch, kinh doanh rồi trở thành Trưởng phòng Kinh doanh Công ty Điện lực 3. Năm 1998, anh về EVN làm Trưởng ban Phát triển điện Nông thôn, miền núi và hải đảo; sau đó là Trưởng ban Kinh doanh và Điện Nông thôn, Trưởng ban Kế hoạch. Từ tháng 1/2011 đến tháng 9/2017, anh giữ cương vị Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

Một chàng sinh viên học Điện khí hóa xí nghiệp năm nào đã đi qua gần bốn thập kỷ của ngành Điện, trong đó có những năm tháng công việc gắn trực tiếp với hành trình đưa dòng điện về nông thôn, miền núi và hải đảo, rồi với lĩnh vực kinh doanh điện và quá trình chuyển đổi từ tư duy “cung cấp điện thuần túy” sang “chăm sóc khách hàng, lấy khách hàng làm trung tâm của mọi hoạt động”.

Đó là Nguyễn Tấn Lộc của ngành Điện.

Nhưng trở về K10IB, một cái tên khác đã chờ anh ở đó từ trước mọi chức vụ:

Lộc “Chuột”.

Nguyễn Trung Thành “Mohin” gọi anh như thế trong Điểm danh lớp K10IB; những trang viết khác còn giữ lại hình ảnh Lộc “Chuột” gửi ảnh lớp cho bạn bè, đọc thơ trong những lần hội ngộ.

Một người ngoài đời là Anh hùng Lao động Hà Đình Minh.

Một người từng là Phó Tổng giám đốc EVN Nguyễn Tấn Lộc.

Nhưng khi Thành “Mohin” điểm danh, những chức danh ấy đều biến mất.

Chỉ còn:

Minh “Hắn”. Lộc “Chuột”.

Có lẽ chỉ những người đã đi cùng nhau từ tuổi hai mươi mới có một đặc quyền như thế: được gọi một con người bằng cái tên có trước mọi chức vụ, học hàm và danh hiệu của đời họ.

6. CÓ MỘT THÀNH TÍCH KHÔNG GHI TRONG BẰNG KHEN

Nếu chỉ kể K10IB có một Anh hùng Lao động, hai Nhà giáo Nhân dân và một nguyên Phó Tổng giám đốc EVN, ta mới thấy họ đã đi xa đến đâu.

Nhưng có một thành tích khác không nằm trên bằng khen.

Họ giữ được nhau.

Năm 1999, K10IB tổ chức cuộc gặp tại Đồ Sơn với 37 người từ nhiều miền trở về. Từ dấu mốc ấy, những cuộc hội ngộ nối tiếp nhau qua Hạ Long, Hải Dương, Yên Tử, Hà Nội, Quất Lâm, Phú Thọ, Yên Bái, Thác Bà, Cửa Lò… rồi còn đi xa hơn nữa, lên Lũng Cú – Hà Giang ở cực Bắc và xuống tận Đất Mũi – Cà Mau ở cực Nam của Tổ quốc. Những địa danh ấy, đặt cạnh nhau, bỗng thành một thứ bản đồ khác của K10IB: không phải bản đồ để đo họ đã đi được bao nhiêu cây số, mà để thấy một lớp học năm 1974 đã tìm được bao nhiêu lý do để tiếp tục đi cùng nhau sau khi tuổi sinh viên từ lâu đã ở lại phía sau.

Từ Đồ Sơn đến Lũng Cú, từ Thác Bà, Cửa Lò đến Đất Mũi, mỗi chuyến đi lại thêm một lớp ký ức mới lên những ký ức đã có từ Cơ Điện. Có lẽ vì thế, điều đáng kể không chỉ là K10IB đã duy trì gặp mặt từ năm 1999 đến nay, mà là sau bao nhiêu năm, họ vẫn còn muốn cùng nhau đi thêm một đoạn đường nữa.

Những cuộc gặp ấy nói một điều rất lạ về thời gian.

Ngoài xã hội, họ đã trở thành giáo sư, nhà giáo, giám đốc, kỹ sư, cán bộ quản lý.

Về lớp, mọi thứ ấy gần như được đặt ngoài cửa.

Anh hùng Lao động lại thành Minh “Hắn”.

Phó Tổng giám đốc EVN lại thành Lộc “Chuột”.

PGS, NGND vẫn là Dục “Sứt” trong những câu thơ nghịch ngợm của bạn học.

Người này gọi người kia bằng biệt danh cũ, kể lại chuyện mấy chục năm trước, cãi nhau xem chi tiết nào mới đúng rồi cuối cùng lại cười.

Chức vụ đến sau.

Danh hiệu đến sau.

Những cái tên K10 có trước tất cả.

Và kỳ lạ thay, những cái tên đến trước ấy lại sống lâu hơn nhiều chức vụ đến sau.

Có lẽ đó là một trong những điều đẹp nhất của K10IB.

Ngoài cuộc đời, mỗi người có thể mang một danh hiệu.

Trong buổi điểm danh K10, danh hiệu chung lớn nhất chỉ còn hai chữ: bạn bè.

7. K10 KHÔNG ĐI RA KHỎI CƠ ĐIỆN BẰNG MỘT CON ĐƯỜNG

Chỉ một vài cuộc đời đã đủ cho thấy K10 tỏa đi rộng đến mức nào.

Nguyễn Trọng Bằng đi từ người lính đến những bài toán công nghệ.

Nguyễn Đình Mãn mang hơn bốn thập kỷ đứng lớp kết tinh thành một di sản Vẽ kỹ thuật.

Lại Khắc Lãi rời vị trí quản lý khoa học ở Đại học Thái Nguyên nhưng lại trở về TNUT đào tạo những tiến sĩ cho thế hệ sau.

Mai Xuân Hòa đi từ giảng đường sang quản lý khoa học rồi quản lý phát triển công nghiệp của một thành phố cảng.

Hà Đình Minh từ chiến trường Trị – Thiên bước vào nhà máy, đi từ kỹ sư đến người đứng đầu một doanh nghiệp chế tạo máy điện.

Phạm Hữu Đức Dục, Dương Đức Phương đi từ lớp học K10IB đến bục giảng rồi trở thành những người lãnh đạo giáo dục.

Nguyễn Tấn Lộc từ K10IB đi vào ngành Điện quốc gia.

Nguyễn Văn Khôi đem tư duy Công nghệ Chế tạo máy vào Diesel Sông Công.

Còn Chính Tơ – cây guitar A3 năm nào – đi qua gần ba mươi năm làm kỹ sư trưởng khách sạn năm sao mà đến tuổi nghỉ hưu vẫn chưa chịu đặt cây đàn xuống.

K10 không đi ra khỏi Cơ Điện bằng một con đường.

Họ tỏa đi như những đường dây từ một điểm nguồn: vào nhà máy, lên giảng đường, ra chiến trường, đến cơ quan quản lý, bước vào doanh nghiệp, đi khắp các miền đất.

K10 không đi ra khỏi Cơ Điện bằng một con đường, và cuộc đời cũng không dành cho hơn hai trăm con người ấy cùng một số phận. Có người thành danh trong khoa học, giáo dục, công nghiệp và quản lý; có người đi một đời nghề nghiệp bình lặng; có người gặp những khúc quanh, những lựa chọn không thành, những năm tháng khó khăn mà một bài viết kỷ niệm thường dễ bỏ qua. Nhưng một thế hệ không thể chỉ được kể bằng những người đứng ở vị trí cao nhất. Bức chân dung chỉ thật khi trong đó có cả thành công lẫn trắc trở, những con đường rộng mở lẫn những đoạn đời gập ghềnh.

Bởi điều đáng kể về K10 không phải ai đã đứng cao nhất, mà là từ cùng một điểm xuất phát, họ đã sống, làm nghề và đi qua thời cuộc như thế nào.

8. RỒI CÓ MỘT NGÀY, HỌ BẮT ĐẦU TÌM NHAU

Sau khi ra trường, mỗi người đi về một phương. Những năm đầu còn thư từ, còn biết khá rõ bạn mình đang làm ở đâu, sống thế nào; nhưng rồi công việc, gia đình, con cái, những lần chuyển đơn vị, những năm tháng bao cấp rồi đổi mới cứ lần lượt cuốn mỗi người vào một hành trình riêng. Khoảng cách giữa những lần gặp mặt cũng dài dần: từ vài tháng thành vài năm, rồi có khi cả chục năm. Đến một lúc, người này không còn biết người kia đang ở đâu, một cái tên từng rất thân thuộc bỗng trở thành địa chỉ phải dò tìm.

Rất nhiều tập thể sinh viên đã lặng lẽ xa nhau theo cách ấy, và điều đó cũng chẳng có gì lạ khi cuộc đời mỗi người đã rẽ sang một hướng.

Nhưng K10 lại làm một việc ngược với sự bào mòn của thời gian: họ bắt đầu đi tìm nhau.

Trong hành trình đi tìm lại nhau ấy, có một người K10 cần được gọi tên lâu hơn một nhịp: Nguyễn Văn Hùng – Hùng Bò.

Nếu chỉ nhìn vào từng việc riêng lẻ, người ta có thể thấy anh là người tìm bạn, vận động hội khóa, làm Blog, góp sức biên soạn kỷ yếu, thiết kế logo, lập bản đồ, xây dựng kịch bản ngày hội hay cùng bạn bè vận động dựng Tháp Bút Cơ Điện. Nhưng đặt tất cả những việc ấy cạnh nhau mới thấy chúng không hề rời rạc. Phía sau chúng là một sự thôi thúc gần như theo anh suốt nhiều năm: đừng để những người từng đi cùng nhau trở thành người xa lạ; đừng để những câu chuyện đã sống cùng nhau biến mất khi người nhớ chúng già đi.

Anh tìm những người bạn đã mất liên lạc, tập hợp anh em, góp phần hình thành Hội K10 và duy trì những cuộc gặp. Nhưng Hùng Bò không muốn mỗi người chỉ mang về một mảnh ký ức rồi lại cất riêng trong lòng mình. Anh gọi người viết, tự viết, biên tập, tìm ảnh, nhận diện người trong ảnh, sửa một cái tên, hỏi lại một địa danh, đưa những câu chuyện lên Blog rồi gom chúng vào những tập K10 Cơ Điện – Ngày ấy & Bây giờ. Từng mảnh nhớ riêng lẻ nhờ thế được đặt cạnh nhau và dần trở thành ký ức chung của cả một thế hệ.

Có lẽ nét riêng nhất ở Hùng Bò nằm ở đó: anh không chỉ nhớ quá khứ; anh tìm cách tổ chức ký ức để mọi người có thể cùng nhớ.

Vì thế, với anh, một ngày hội K10 cũng không thể chỉ có phát biểu, chụp ảnh rồi liên hoan. Anh cùng bạn bè muốn người trở về được sống lại tuổi hai mươi của mình. Ga Lưu Xá được gọi về; T. Ba Nhất, nhà ăn, ký túc xá, những chuyến tàu, tấm vé, phiếu ăn, tiếng loa ngày cũ… được đưa lên sân khấu. Kịch bản K10 Cơ Điện over night do Nguyễn Văn Hùng đứng tên thực chất là một cuộc phục dựng ký ức bằng tiếng cười: những mái đầu đã bạc nhập vai những chàng trai, cô gái của mấy chục năm trước, để một thời nghèo khó, nghịch ngợm và đầy sức sống bỗng đứng dậy giữa hội trường.

Anh còn hiểu rằng ký ức muốn đi xa hơn đời người thì phải có hình hài. Bởi vậy mới có Blog, những cuốn kỷ yếu, logo K10, bản đồ những địa danh của tuổi trẻ và, đặc biệt, sự vận động của K10 cùng các thế hệ cựu sinh viên để Tháp Bút Cơ Điện hiện hữu trong khuôn viên trường. Những cuộc gặp rồi sẽ tan, những người nhớ chuyện rồi sẽ già; nhưng một cuốn sách còn có thể được mở, một tấm bản đồ còn có thể chỉ lối, một Tháp Bút còn có thể đứng đó để người đến sau hỏi: “Vì sao những người đi trước lại dựng công trình này?”

Bởi vậy, nếu phải tìm một từ để nói về vai trò của Hùng Bò trong K10, có lẽ đó không chỉ là người tổ chức.

Anh là người nối.

Nối người bạn này với người bạn kia; nối một ký ức riêng với ký ức chung; nối K10 hôm nay với những chàng trai, cô gái năm 1974; và qua những gì được lưu lại, nối cả một thế hệ đã đi qua với những người Cơ Điện đến sau.

Ở nhiều cộng đồng, ký ức tồn tại tự nhiên cho đến khi những người nhớ nó mất đi.

K10 đã làm một việc khác: họ tổ chức ký ức.

Blog K10 không đơn thuần là nơi đăng những bài viết hoài niệm. Ở đó, người này gọi người kia bằng biệt danh cũ, một cái tên dưới bức ảnh được sửa lại cho đúng, một câu chuyện tưởng đã quên được người khác nối thêm, một địa điểm năm xưa được mang ra tranh luận, rồi từ một bức ảnh hay một lời nhắn, có khi lại tìm được thêm một người bạn đã mất liên lạc nhiều năm. Ký ức vì thế không còn nằm riêng trong trí nhớ của từng người; nó được góp lại, đối chiếu, bổ sung và dần trở thành ký ức chung của cả một thế hệ.

Hai tập K10 Cơ Điện – Ngày ấy & Bây giờ cũng được hình thành theo cách ấy. Đó không chỉ là những cuốn kỷ yếu để mở ra trong ngày hội khóa, mà là nơi những mảnh đời riêng được đặt cạnh nhau: người kể chuyện học hành, người nhớ một chuyến tàu, người viết về thầy cô, người gọi lại một người bạn đã mất, người nhặt từ quá khứ một bữa cơm, một trận bóng, một tiếng đàn. Khi những mảnh nhỏ ấy tìm được chỗ bên nhau, K10 bắt đầu nhìn thấy không chỉ từng người, mà nhìn thấy chính thế hệ mình.

Rồi đến những ngày hội, họ còn muốn đi xa hơn việc gặp mặt, phát biểu, chụp ảnh và liên hoan. K10 muốn sống lại tuổi hai mươi. Vì thế, ga Lưu Xá, T. Ba Nhất, nhà ăn, A3 cùng những chuyện trốn vé, nhảy tàu, nước chè, phiếu ăn, phòng tắm, giường tầng, tiếng loa ngày cũ… lần lượt được gọi trở về và đưa lên sân khấu trong những kịch bản tái hiện đời sinh viên. Những ông bà đã ngoài sáu mươi khi ấy lại nhập vai những chàng trai cô gái của mấy chục năm trước, cười với chính cái đói, cái nghịch và những vụng dại của tuổi trẻ mình.

Họ không chỉ kể lại quá khứ; họ dựng quá khứ đứng dậy.

Nhưng phía sau những cuộc vui ấy, những người K10 cũng hiểu rất rõ một điều mà tuổi hai mươi chưa bao giờ phải nghĩ tới: thời gian được còn ngồi với nhau không phải là vô tận.

Trịnh Công Vương (K10MA) – Korolbo – đã gọi phần thời gian còn lại bằng một cách vừa hóm hỉnh, vừa khiến người đọc hôm nay phải chùng xuống. Năm 2013, khi K10 đang hướng tới cuộc hội ngộ bốn mươi năm, anh viết trong Hịch Cơ Điện: “Đừng ngần ngại dăm lần tái ngộ, còn nhiều đâu ngân quỹ thời gian.”

“Ngân quỹ thời gian” – một cách nói rất K10. Ngày trẻ, họ từng thiếu cơm, thiếu tiền, thiếu cả nước tắm; đến khi tóc đã bạc, thứ bắt đầu trở nên quý nhất lại là những năm tháng còn được gặp nhau. Bởi vậy, những cuộc hội ngộ về sau không còn đơn thuần là họp lớp. Còn gặp được nhau thì gặp; còn gọi được tên nhau thì gọi.

Và có lẽ chính khi bắt đầu nhận ra “ngân quỹ” ấy không còn nhiều, người ta càng muốn giữ lại những gì thời gian đang âm thầm lấy đi.

Có lẽ Hùng Bò và những người bạn đã hiểu một điều rất sâu mà đôi khi chỉ khi đi gần hết một đời người mới nhận ra: ký ức của một thế hệ không chỉ nằm trong những sự kiện lớn, những ngày tháng được ghi vào lịch sử hay những thành tích đáng tự hào. Nó còn trú trong một chiếc thìa, một tấm vé tàu, một bát cơm, tên một quán nước, chiếc giường tầng, cây guitar trên A3, tiếng ai gọi bạn từ cuối hành lang, một biệt danh tưởng chỉ dùng vài năm mà theo người ta suốt cả cuộc đời.

Những thứ ấy riêng lẻ đều rất nhỏ. Nhưng khi được gọi lại đúng tên và đặt cạnh nhau, chúng bỗng ghép thành khuôn mặt của một thời.

Và một thời tưởng đã đi rất xa, nhờ thế lại tìm được đường trở về.

9. NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CÒN TRẢ LỜI “CÓ”

Càng về sau, mỗi cuộc hội ngộ K10 dường như càng có hai phần: niềm vui gặp lại và khoảng lặng khi nhận ra đội hình đã thưa.

Nguyễn Văn Độ đã đi từ rất sớm. Dương Đức Phương mất năm 2008. Năm 2019, K10 lại tiễn hai người bạn: Hà Đình Minh và Phan Quang Thế. Trong chuyến họp lớp K10IA tại Đồng Hới năm 2014, bạn bè đã ngồi bên nhau nhắc tới những người của lớp không còn nữa; còn trong Điểm danh lớp K10IB, Nguyễn Trung Thành đang gọi những biệt danh đầy tiếng cười cũng phải chùng xuống khi đến những người “đã đi xa mãi mãi”.

Đến tuổi ấy, những chiếc ghế trống không còn là điều bất ngờ. Nhưng có một khoảng cách rất lớn giữa vắng mặt và bị quên.

K10 không thể giữ mọi người ở lại với thời gian, nhưng họ cố giữ tên nhau ở lại. Có lẽ vì thế mà Blog, kỷ yếu, những bức ảnh cũ, ngày hội, bản đồ và Tháp Bút càng trở nên có ý nghĩa khi tuổi đời đi xa hơn. Lúc trẻ, người ta giữ ảnh để nhớ một chuyến đi; về già, đôi khi người ta giữ một cái tên để một con người không biến mất khỏi ký ức chung.

Nguyễn Văn Độ không còn để kéo chiếc accordion, nhưng những bè nhạc anh viết vẫn được bạn bè nhớ. Dương Đức Phương không còn trở về những cuộc gặp K10IB, nhưng dấu chân của người thầy vẫn còn trong những thế hệ học trò. Hà Đình Minh không còn ngồi giữa bạn bè trong vai Minh “Hắn” – lớp trưởng, nhưng cái tên ấy vẫn được gọi trong mỗi lần K10IB nhắc lại đội hình năm cũ. Phan Quang Thế cũng không còn để nhìn Tháp Bút ở vị trí chính anh từng lựa chọn, nhưng công trình ấy vẫn đứng đó – như một dấu nối giữa người sinh viên K10MA năm 1974, người Hiệu trưởng nhiều năm sau và mái trường mà anh đã gắn bó gần trọn đời nghề nghiệp.

Những chiếc ghế có thể trống dần theo năm tháng, nhưng một con người đâu chỉ hiện diện bằng chiếc ghế mình đang ngồi. Có người còn lại trong một bè nhạc; có người trong những học trò; có người trong một nhà máy, một cuốn sách, một công trình; có người còn lại trong một biệt danh mà bạn bè vẫn gọi.

Và chỉ cần người còn lại vẫn nhớ để gọi đúng tên người đã khuất, đội hình ấy chưa hoàn toàn tan.

Có lẽ đó là điều kỳ lạ nhất của một tập thể đã đi cùng nhau đủ lâu: người ta không giữ được thời gian, nhưng có thể giữ nhau khỏi bị thời gian xóa mất.

10. MỘT THẾ HỆ KHÔNG CHỈ GIỮ LỬA

Nếu câu chuyện K10 chỉ dừng ở hoài niệm, nó đã đẹp, nhưng chưa đủ lớn.

Điều đáng kể hơn là rất nhiều người trong số họ đã tiếp tục trao lại.

Nguyễn Đình Mãn trao kinh nghiệm một đời dạy học thành những mẫu vật, giáo trình, hàng nghìn trang tài liệu.

Lại Khắc Lãi trao tri thức qua những cuốn sách và những nghiên cứu sinh đã trưởng thành.

K10 Cơ Điện - TNUT
Những người K10 trở về TNUT trồng cây lưu niệm. Sau nửa thế kỷ, trở về không chỉ để nhớ những gì mình đã nhận, mà còn để gửi lại mái trường một điều gì đó cho những người đến sau.

Nguyễn Trọng Bằng mang một cuốn giáo trình cũ ra khỏi thư viện, biến tri thức trong đó thành máy móc, rồi nhiều năm sau lại đem cuốn sách trở về mái trường.

Hà Đình Minh khi đã đứng đầu VIHEM vẫn mở cửa nhà máy cho sinh viên Cơ Điện tới thực tập.

Nguyễn Văn Khôi đưa tư duy Công nghệ Chế tạo máy vào những dây chuyền, sản phẩm của Diesel Sông Công.

Chính Tơ giữ cây guitar.

Hằng Mèo không chỉ giữ cây đàn mà còn đặt nó vào những bàn tay nhỏ hơn.

Hùng Bò biến việc nhớ bạn thành sách, Blog, ngày hội, biểu tượng.

Những con đường ấy khác nhau, nhưng ở điểm sâu nhất lại gặp nhau:

những gì mình từng nhận, không giữ lại cho riêng mình.

Có lẽ chính ở đây, Giữ lửa gặp Truyền lửa.

Giữ lửa không phải là ngồi bên những kỷ niệm cũ để tiếc rằng ngày xưa ngọn lửa từng cháy đẹp đến thế nào. Nếu chỉ để nhớ, một ngày nào đó ký ức cũng sẽ đi theo những người đã sống trong nó. Ngọn lửa chỉ thật sự được giữ khi những gì một thế hệ từng nhận được vẫn tiếp tục sống trong công việc, trong cách đối đãi với nhau và trong những điều họ trao lại cho người đến sau.

K10 đã trao lại theo nhiều cách. Nguyễn Đình Mãn chắt một đời đứng lớp thành những mẫu vật, giáo trình và gần 1.300 trang bài giảng để sinh viên sau mình học Vẽ kỹ thuật dễ hơn. Lại Khắc Lãi nghỉ hưu vẫn trở về hướng dẫn nghiên cứu sinh. Hà Đình Minh khi đã đứng đầu VIHEM vẫn mở cửa nhà máy cho sinh viên Cơ Điện đến thực tập. Nguyễn Trọng Bằng mang tri thức từ một cuốn giáo trình cũ vào những cỗ máy thật, rồi nhiều năm sau lại đem chính cuốn sách ấy trở về mái trường. Hằng Mèo giữ cây đàn từ tuổi hai mươi đến khi tóc bạc, rồi đặt nhạc cụ vào tay những đứa cháu của mình. Hùng Bò cùng bạn bè nhặt lại từng cái tên, bức ảnh, câu chuyện để một thế hệ không bị thời gian xóa nhòa.

Những việc ấy chẳng giống nhau, nhưng đều có chung một hướng: thứ mình đã nhận từ cuộc đời, từ mái trường, từ thầy và bạn thì không giữ lại cho riêng mình.

Và có lẽ Truyền lửa cũng bắt đầu từ đó. Không phải bắt một người trẻ hôm nay xúc động giống hệt những người đã sống ở Cơ Điện năm 1974, càng không phải yêu cầu họ hoài niệm về một thời mình chưa từng trải qua. Truyền lửa là để họ hiểu vì sao một thế hệ từng đi qua “những ngày đói dài dằng dặc” mà vẫn học, vẫn hát, vẫn yêu, vẫn làm nghề; vì sao một bát canh loãng, tấm vé tàu Lưu Xá, cây guitar trên A3, chiếc thước logarit của người thầy hay một cuốn giáo trình cũ lại có thể theo con người suốt nửa thế kỷ.

Bởi phía sau những vật rất nhỏ ấy là cách một thế hệ đã lớn lên.

Họ vào trường khi đất nước còn nghèo, bước ra đời giữa những năm tháng nhiều biến động và làm nghề trong một thời thiết bị thiếu, tài liệu thiếu, công nghệ còn xa. Có người phải học thêm từ người thợ đứng máy, từ một thiết bị hỏng, từ cuốn sách cũ tìm được trong thư viện, từ chuyến đi khảo sát và cả từ những lần làm chưa đúng. Rồi đất nước đổi mới, nhà máy đổi, công nghệ đổi, cách quản lý đổi; những người kỹ sư ấy cũng buộc phải học tiếp, làm lại và tự đổi mình nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.

Không phải con đường nào cũng thành công, và hơn hai trăm con người K10 cũng không thể có cùng một số phận. Nhưng nhìn qua những cuộc đời đã hiện lên trong câu chuyện này, có một điều khó bỏ qua: họ không được trao sẵn một thời dễ dàng, nên đã học cách không chờ điều kiện hoàn hảo mới bắt đầu làm việc.

Có gì thì học từ cái đó. Thiếu gì thì tìm cách bù vào. Chưa biết thì học. Máy chưa có thì nghĩ cách làm. Công nghệ thay đổi thì học lại. Nghỉ hưu mà còn làm được việc thì vẫn tiếp tục làm. Bạn thất lạc thì đi tìm. Ký ức có nguy cơ mất thì viết lại. Ngọn lửa đã được trao cho mình thì tìm cách trao tiếp.

Có lẽ đó mới là điều K10 có thể gửi tới những người trẻ hôm nay.

Không phải hãy sống giống chúng tôi.

Mà là: đến lượt các bạn, đừng để ngọn lửa dừng lại ở mình.

11. ĐIỂM DANH SAU NĂM MƯƠI NĂM

Bây giờ có thể trở lại buổi điểm danh ở đầu câu chuyện.

Hùng Bò. Chính Tơ. Hằng Mèo. Bằng chui. Minh “Hắn”. Lộc “Chuột”. Thành “Mohin”…

Nửa thế kỷ trước, đó chỉ là những cái tên vang lên trong lớp học, ngoài hành lang A3, trên sân bóng, bên quán nước T. Ba Nhất hay giữa một đám bạn đang chờ nhau ở ga Lưu Xá. Nửa thế kỷ sau, mỗi cái tên đã mang theo phía sau nó cả một đời người.

Chính Tơ là tiếng guitar từng kéo sinh viên đứng kín hành lang A3, rồi theo một người kỹ sư qua gần ba mươi năm ở những khách sạn năm sao mà đến tuổi nghỉ hưu vẫn chưa chịu im. Hằng Mèo là cây mandolin trong dàn nhạc năm 1975, để rồi hơn nửa thế kỷ sau, đôi tay từng gảy đàn cho bạn bè Cơ Điện lại chỉ cho những đứa cháu những nốt nhạc đầu tiên. Nguyễn Văn Độ đã không còn, nhưng chiếc accordion và những bè nhạc anh viết cho Trường ca Cơ Điện vẫn được bạn bè nhớ đến như thể người nhạc công ấy chỉ vừa rời khỏi chỗ ngồi của mình.

Nguyễn Trọng Bằng đi từ người lính ở Khánh Khê đến máy cán thép, tuyển khoáng, sấy chân không rồi Plasma, mang theo suốt đời một thói quen rất Cơ Điện: gặp điều chưa biết thì học, gặp bài toán khó thì tìm cách làm. Nguyễn Văn Khôi đi từ đồ án chế tạo piston đến Diesel Sông Công, để sau gần một đời với máy móc vẫn có thể nói một câu hồn nhiên như chàng sinh viên năm nào: “Nghề Cơ Điện hay lắm em ơi.”

Nguyễn Đình Mãn gửi hơn bốn thập kỷ đời nghề nghiệp vào những giờ Vẽ kỹ thuật, những mẫu vật và hàng nghìn trang tài liệu để người học sau mình nhìn một vật thể rõ hơn. Lại Khắc Lãi nghỉ hưu khỏi công việc quản lý nhưng không nghỉ khỏi học thuật, lại trở về TNUT đào tạo những tiến sĩ tiếp theo. Phan Quang Thế đi từ một sinh viên K10MA đến người đứng đầu chính mái trường đã đào tạo mình; và trong những năm làm Hiệu trưởng, anh đã dành sự ủng hộ cho Tháp Bút Cơ Điện, đích thân chọn một chỗ trong khuôn viên trường để món quà của những người Cơ Điện hôm qua được đứng lại với thời gian.

Còn K10IB có một cách riêng để chứng minh thời gian đôi khi bất lực trước tình bạn. Ngoài cuộc đời, Hà Đình Minh từng là người lính Trị – Thiên, rồi kỹ sư, người đứng đầu VIHEM và Anh hùng Lao động; Nguyễn Tấn Lộc đi gần bốn mươi năm cùng ngành Điện và trở thành Phó Tổng giám đốc EVN; Phạm Hữu Đức Dục và Dương Đức Phương trở thành Nhà giáo Nhân dân. Nhưng bước vào buổi họp lớp, những lớp áo của đời nghề nghiệp dường như được đặt lại ngoài cửa. Người ta lại nghe Minh “Hắn”, Lộc “Chuột”, Dục “Sứt”… Những chức danh lớn đến sau tuổi hai mươi; còn những cái tên bạn bè gọi nhau đã có trước tất cả, và hóa ra lại bền hơn rất nhiều chức vụ đến sau.

Nhưng K10 không chỉ có những con người được nhắc tên trong bài viết này. Phía sau họ còn hơn hai trăm số phận đã tỏa đi từ Cơ Điện: người vào nhà máy, người lên giảng đường, người khoác áo lính, người làm khoa học, quản lý, kinh doanh; có người thành đạt, có người đi một đời nghề nghiệp bình lặng, có người gặp những đoạn đường gập ghềnh. Hôm nay có người vẫn khỏe mạnh trở về ngày hội, có người chỉ còn có thể gửi lời từ một nơi xa, và cũng đã có những người chỉ trở về bằng một cái tên được nhắc trong câu chuyện hay một gương mặt còn lại trên bức ảnh cũ.

Bởi thế, cuộc điểm danh sau năm mươi năm không còn giống bất kỳ buổi điểm danh nào của năm 1974.

Không còn sổ đầu bài để ghi ai có mặt, ai vắng. Không còn một lớp trưởng đứng trước những mái đầu xanh. Chỉ có những người bạn tóc đã bạc ngồi bên nhau, người này gọi tên người kia; một biệt danh vừa vang lên đã kéo theo cả một câu chuyện, một trận cười, đôi khi là một khoảng lặng. Có người đáp lời ngay bên cạnh, có người từ Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh hay một nơi xa gửi lời về; và có những cái tên vừa được gọi lên, cả bàn bỗng im đi vì người ấy đã không còn có thể trả lời.

Nhưng không thể trả lời không có nghĩa là vắng mặt.

Nguyễn Văn Độ không còn ngồi bên chiếc accordion, nhưng bạn bè vẫn nhớ phần bè anh viết. Hà Đình Minh không còn ngồi ở vị trí lớp trưởng K10IB, nhưng Minh “Hắn” vẫn được gọi tên. Dương Đức Phương đã đi xa, nhưng một người thầy từng bước ra từ K10IB vẫn còn trong ký ức bạn bè và học trò. Những chiếc ghế có thể trống dần theo năm tháng; chỉ cần người còn lại vẫn gọi đúng tên người đã khuất, đội hình ấy vẫn chưa hoàn toàn tan.

Có lẽ đó là điều kỳ lạ nhất của một tập thể đã đi cùng nhau đủ lâu: người ta không giữ được thời gian, nhưng có thể giữ nhau khỏi bị thời gian xóa mất.

Và nhìn từ hôm nay, mới thấy K10 đã đi một quãng đường dài đến nhường nào. Từ ga Lưu Xá, những con đường tỏa tới chiến trường biên giới, các nhà máy cơ khí, hệ thống điện quốc gia, những giảng đường đại học, phòng thiết kế, phòng thí nghiệm, cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Từ bát “canh toàn quốc” của những ngày đói dài dằng dặc đến những cỗ máy được chế tạo; từ đồ án piston của một chàng sinh viên đến những sản phẩm của Diesel Sông Công; từ cuốn giáo trình cũ tìm thấy trong thư viện đến ngọn lửa Plasma; từ cây guitar trên A3 đến gần 1.300 trang tài liệu Vẽ kỹ thuật; từ những biệt danh nghịch ngợm của K10IB đến Anh hùng Lao động, Nhà giáo Nhân dân, lãnh đạo ngành Điện; từ những mảnh hồi ức nằm riêng trong từng người đến Blog, kỷ yếu, ngày hội, bản đồ và Tháp Bút Cơ Điện.

Nhưng nếu phải nói điều gì làm K10 đáng nhớ nhất, có lẽ không phải họ đã đi xa đến đâu, đã giữ chức vụ gì hay đã nhận những danh hiệu nào.

Mà là sau khi đi xa đến thế, họ vẫn còn nhớ đường trở lại với nhau; và khi trở lại, vẫn gọi được đúng tên nhau.

Họ vẫn nhớ ai từng chơi cây đàn nào, ai ở căn phòng nào, thầy nào hay rút thước logarit ra kiểm tra khiến cả đám sinh viên run, ai từng chia cho mình một miếng ăn trong những ngày đói, ai từng cùng mình nhảy tàu, đá bóng, thức đêm, yêu vụng về hay ngồi nghe guitar dưới A3. Họ vẫn tìm người thất lạc, sửa cho đúng một cái tên dưới bức ảnh cũ, bổ sung cho nhau một mảnh ký ức, viết tiếp những câu chuyện mà người khác chưa kịp viết.

Và chính trong những việc tưởng rất nhỏ ấy, Ngọn lửa Cơ Điện vẫn cháy.

Nó đã cháy trong những chàng trai cô gái bước xuống ga Lưu Xá năm 1974 với một tương lai còn chưa biết sẽ đi về đâu; cháy trong những năm cơm chưa đủ no mà tiếng đàn vẫn vang trên A3; cháy trong người lính, người kỹ sư đứng trước chiếc máy chưa biết làm, người thầy đứng trước một thế hệ sinh viên mới; rồi cháy trong những mái đầu bạc vẫn còn muốn tìm bạn, viết lại ký ức, dựng một Tháp Bút, trao một cuốn sách, hướng dẫn thêm một nghiên cứu sinh, mở cửa nhà máy cho lớp trẻ hay đặt cây đàn vào tay một đứa cháu.

Ngọn lửa ấy chưa bao giờ chỉ thuộc về K10.

K10 chỉ là một thế hệ đã nhận nó, giữ nó qua phần đời của mình, rồi tìm cách trao nó tiếp.

Bởi vậy, sau năm mươi năm, buổi điểm danh này có lẽ cũng không chỉ để gọi những người của K10.

Nó còn như một lời gọi vọng sang những thế hệ Cơ Điện đang đứng ở phía hôm nay.

Rằng trước các bạn đã có những người từng đi qua những ngày rất khó mà không chịu thôi học, thôi hát, thôi làm nghề và thôi thương nhau. Họ không để lại một khuôn mẫu để thế hệ sau phải sống giống mình; họ chỉ để lại một ngọn lửa và một lời nhắn không cần viết thành khẩu hiệu:

Đến lượt mình, hãy làm cho ngọn lửa ấy cháy theo cách của mình. Và khi đã nhận được lửa, đừng để nó dừng lại ở mình.

Năm mươi năm trước:

K10 Cơ Điện – có mặt.

Năm mươi năm sau, có người còn, có người đã đi xa; nhưng nếu điểm danh bằng ký ức, bằng những gì họ đã làm và những gì đang được trao tiếp, có lẽ vẫn có thể nghe một tiếng trả lời vọng về từ ga Lưu Xá, từ A3, từ những nhà máy, giảng đường, từ chiếc accordion đã im tiếng và từ những mái đầu bạc hôm nay:

Có mặt.

Và chừng nào tiếng trả lời ấy còn được một thế hệ khác nghe thấy rồi tiếp tục gọi sang thế hệ sau, thì buổi điểm danh K10 chưa kết thúc.

Ngọn lửa Cơ Điện cũng chưa bao giờ tắt.

VỀ NGUỒN TƯ LIỆU

Bài viết này không nhằm dựng lại một lịch sử đầy đủ của K10 Trường Đại học Cơ Điện Bắc Thái, càng không phải một bản tổng kết thành tích của một khóa sinh viên. Sau hơn nửa thế kỷ, nhiều tư liệu đã thất lạc, có những câu chuyện chỉ còn trong trí nhớ của người trong cuộc, có những mốc thời gian và biệt danh phải lần tìm qua nhiều nguồn mới có thể nối lại. Vì thế, bài ký được viết từ những gì còn lưu giữ được, những gì các nhân chứng còn nhớ và, quan trọng hơn, từ sự đối chiếu giữa nhiều mảnh ký ức độc lập.

Nguồn tư liệu nền tảng nhất là hai bộ K10 Cơ Điện – Ngày ấy & Bây giờ, gồm bộ xuất bản năm 2009 và phần tư liệu được tiếp tục tập hợp đến 2014. Đây là một kho ký ức đặc biệt phong phú do chính những người K10 và bạn bè các khóa viết lại: từ ngày nhập trường, ga Lưu Xá, nhà A3, T. Ba Nhất, nhà ăn, những chuyến tàu, chuyện học hành, thầy cô, văn nghệ, tình yêu, những năm tháng sau khi tốt nghiệp cho đến quá trình tìm lại nhau và tổ chức các ngày hội K10. Bên cạnh đó là hệ thống bài viết trên Blog Hội K10 Cơ Điện, nơi nhiều câu chuyện tiếp tục được bổ sung, sửa tên người, nhận diện ảnh, gọi lại biệt danh và nối thêm những người bạn từng mất liên lạc.

Mảng tư liệu về Đội văn nghệ Cơ Điện và ban nhạc K10MC được đối chiếu từ lời kể trực tiếp của thầy Nguyễn Thái, anh Nguyễn Trọng Luân, chị Lê Kim Loan, anh Vũ Thế Hằng, anh Nguyễn Văn Chính cùng ảnh và ký ức của những người trong cuộc. Nhờ đó có thể xác định khá rõ vai trò của Nguyễn Văn Độ – accordion, Nguyễn Văn Chính “Chính Tơ” – guitar, Vũ Thế Hằng “Hằng Mèo” – guitar/mandolin, Đoàn Đức Chính – guitar bass; cũng như đội hình bốn nhạc cụ tham gia Trường ca Cơ Điện năm 1975. Đây là phần tư liệu đã được tập hợp và đối chiếu khá sâu trong bài ký Một thời Cơ Điện hát.

Đối với các nhân vật được nhắc đến trong phần “K10 bước ra đời”, bài viết ưu tiên hồ sơ cá nhân, tài liệu nghề nghiệp và lời kể trực tiếp thay vì chỉ dựa vào ký ức hội khóa. Chân dung Anh hùng Lao động Hà Đình Minh và về nguyên Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam Nguyễn Tấn Lộc – Lộc “Chuột” K10IB được được xây dựng từ các thông tin do chị Đỗ Thị Sơn K10IB cung cấp cùng các thông tin tìm được trên Internet.

Các thông tin về PGS.TS., NGND Phạm Hữu Đức Dục, NGND Dương Đức Phương, PGS.TS. Lại Khắc Lãi, PGS.TS., NGƯT Phan Quang Thế, Mai Xuân Hòa, Nguyễn Văn Khôi và những thành viên K10 khác được hình thành từ tư liệu nhà trường, Kỷ yếu Các giảng viên Khoa Điện 1967-1984, tư liệu K10 và những trao đổi trực tiếp với nhân vật hoặc bạn học cùng khóa.

Bài viết cũng kế thừa những tư liệu đã được đối chiếu trong các bài chân dung Nguyễn Trọng Bằng, Nguyễn Đình Mãn, Nguyễn Văn Hùng – Hùng Bò và các bài viết trước trên Giữ lửa nghề.

Người viết xin trân trọng cảm ơn các thầy cô, các anh chị K10 và những thế hệ Cơ Điện đã mở lại những trang kỷ yếu cũ, tìm những bức ảnh đã ngả màu, kể lại những câu chuyện tưởng đã ngủ yên, bổ sung từng cái tên, biệt danh, mốc thời gian và những chi tiết chỉ người trong cuộc mới có thể nhớ. Nếu không có sự sẻ chia ấy, bài viết này không thể có được hình hài hôm nay.

Đặc biệt, xin cảm ơn những người đã kiên nhẫn đọc, đối chiếu và đính chính tư liệu, bởi sau hơn nửa thế kỷ, giữ cho một ký ức đúng cũng là một cách giữ gìn sự trân trọng đối với những con người đã sống trong ký ức ấy.

Sau năm mươi năm, chắc chắn vẫn còn những cái tên chưa được gọi, những câu chuyện chưa được kể và những chi tiết mà thời gian đã mang đi.

Nhưng có lẽ đó cũng chính là lý do phải viết.

Để những người còn nhớ kịp kể.
Để những người còn giữ kịp trao.
Và để buổi điểm danh K10 Cơ Điện còn được tiếp tục, khi vẫn còn những cái tên cần được gọi lên.

Chia sẻ:FacebookZalo

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Dùng những mã code này để cài ảnh, phim, nhạc vào lời bình
Link ==> <a href="URL">Ở ĐÂY</a>
Hình ảnh ==> [img]URL[/img]
Youtube clip ==> [youtube]URL[/youtube]
Nhạc của Tui ==> [nct]URL[/nct]